Sự biến đổi văn hóa - tiền đề sáng tạo
“ ... chủng tộc người chỉ có vài đơn vị, trong khi văn hoá con người có tới hàng nghìn! Tính đa dạng dân tộc được quan tâm về nguồn gốc lịch sử, nguồn gốc sinh học và về sự phân bố của chúng trong không gian, trong khi tính đa dạng văn hoá lại đặt ra rất nhiều vấn đề. Người ta buộc lòng phải tự hỏi liệu tính đa dạng này là một lợi thế hay là một mối bất lợi đối với thế giới loài người? Câu hỏi chung ấy tất nhiên cũn được chia nhỏ ra thành nhiều câu hỏi khác nữa.” (Claude Levistraus - chủng tộc và lịch sử )
Tiến trình biến đổi văn hoá mà ngay tại thời điểm này đây - cụ thể nhất chúng đang đảm nhận được áp lực của nó, đó là sức mạnh của làn sóng toàn cầu hoá đang diễn ra. Đặt mọi nền văn hoá vào trong một trạng thái tương tác không tránh khỏi. Lo sợ về một kết quả xấu kết quả xấu có thể xảy ra thì những câu hỏi tưởng chừng như cũ rích trên, giờ đây lại được đặt ra một cách bức xúc, đòi hỏi phải được trả lời.
Tiến trình biến đổi văn hoá mà ngay tại thời điểm này đây - cụ thể nhất chúng đang đảm nhận được áp lực của nó, đó là sức mạnh của làn sóng toàn cầu hoá đang diễn ra. Đặt mọi nền văn hoá vào trong một trạng thái tương tác không tránh khỏi. Lo sợ về một kết quả xấu kết quả xấu có thể xảy ra thì những câu hỏi tưởng chừng như cũ rích trên, giờ đây lại được đặt ra một cách bức xúc, đòi hỏi phải được trả lời.
TÍNH ĐA DẠNG
* Nhân loại không biến đổi theo một cấu trúc dạng cây.
Phải chăng mọi sự phát triển đều dẫn đến toàn cầu hoá làm xói mòn các nền văn hoá đa dạng trên mọi miền thế giới. Khi những đặc tính văn hoá xa lạ truyền bá một cách ồ ạt vào một xã hội trên một bình diện rộng lớn thì sự biến đổi có vẻ như là một kết quả tất yếu, và điều đó có không có nghĩa là sự đa dạng văn hoá bị giảm đi.
Tính đa dạng văn hoá đòi hỏi phải được quan sát một cách có hệ thống. Nó tuỳ thuộc vào mức độ cô lập của các nhóm và những tác nhân có mưu đồ thống nhất chúng lại. Điều này có thể lý giải cho câu hỏi về sự gia tăng độ tương phản giữa toàn cầu hoá và địa phương hoá, bản thân nó là một sự tương tác hay mâu thuẫn cũng vậy. Về vấn đề này có vẻ như ở một số nơI , người ta đã thất bại trong việc tìm hiểu cấu trúc của sự biến đổi văn hoá và tìm về với tính bản địa như một cứu cánh.
Sự đa dạng về đặc thù văn hoá, sắc tộc tăng dần từ đồng bằng trung du cho tới miền núi do mức độ cô lập về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên môi trường, quyết định nên những đặc tính riêng biệt của từng cộng đồng người về phương thức sinh hoạt và làm ra của cái vật chất. Với sức mạnh cảu phương tiện khoa học kỹ thuật ngày nay, nó xoá nhoà mọi ranh giới chúng ta đã biết về không gian và thời gian, thì có nghĩa rằng những đặc tính văn hoá của mỗi chủng tộc vì thế mà phải chấp nhận quốc tế hoá hơn hoặc hoàn toàn ngược lại.
Trong các xã hội loài người phải thừa nhận rằng có sự tồn tại của những sức mạnh tác động theo hướng ngược nhau, những xã hội này có xu hướng duy trì thậm chí tăng thêm những tính riêng biệt của chúng và cũng có những xã hội phát triển theo hướng hội tụ nhau. Bên cạnh những sự khác nhau do cô lập tạo ra, sự khác nhau do gần giữa nhau cũng phải nói đến, đó là ý thức tự tôn, muốn được là mình, ý muốn bứt phá không phụ thuộc vào nhóm bên cạnh. Đến đây phải nhắc đến cuộc Phục hưng Minh Trị (1862 - 1912), giống như một con đập chất chứa năng lượng và sức mạnh hàng thế kỷ bị nổ tung. Sóng cồn và sự náo động do việc giải phóng đột ngột những năng lượng này đã làm ảnh hưởng tới cả thế giới bên ngoài. Dưới sự trị vì của hoàng đế Minh Trị chỉ trong vài thập kỷ Nhật Bản đã đạt được những điều mà phương Tây đã phải mất hàng thế kỷ. Ban hành hiến pháp, lập ra nội các và cơ quan luật pháp có hai nghị viện, bãi bỏ việc chia đẳng cấp trong xã hội của thời phong kiến. Cả nước hăng hái lao vào nghiên cứu và áp dụng những tiến bộ của nền văn minh phương Tây hiện đại.
Sự biến đổi thường đồng nghĩa với một cái gì đó mới mẻ tân thời của các đặc tính văn hoá xa lạ có xu hướng thế chỗ văn hoá bản xứ, cũng chính vì vậy mà phần nào nó được chấp nhận. Những người dân sống ở cao nguyên Mayas Ấn Độ thuộc Chipas State và Guatemala, Mexico là một ví dụ của sự phức hợp đa tôn giáo. Uy quyền cưỡng bức của những kẻ thực dân Tây Ban Nha theo đạo Cơ Đốc tác động lên họ bắt đầu từ thế kỷ 16. Tuy nhiên, người Mayas là những người đã định được rõ những vị thánh trong cơ đạo Cơ Đốc để tôn vinh như những vị thánh cổ xưa của riêng họ. Thói quen mộ đạo dường như đã làm họ trở thành người Cơ Đốc, nhưng họ vẫn giữ được tính hai mặt cho mảnh đất Mayas. Kết quả là tôn giáo của họ được làm giàu hơn bởi sự phức hợp.
Trong nhiều trường hợp sự chấp nhận còn phụ thuộc vào mối liên hệ giữa những đặc tính mới mà họ tiếp thu và cội nguồn văn hoá cổ xưa của họ. Đây là những trường hợp của những người Anh đến lập nghiệp tại Châu Úc, nói chung họ không châp nhận văn hoá của người dân bản địa, tuy nhiên một vài đặc tính không quan trọng, như từ ngữ về thực vật, động vật và các khu vực địa lý tự nhiên, đã được người Anh chấp nhận. Từ khi họ nằm trong trạng thái tương tác của sự giao tiếp, người Anh luôn có năng lực để lựa chọn kỹ lưỡng những đặc tính mà có thể kết hợp chặt chẽ với văn hoá của họ. Hơn nữa nếu người ta ý thức được rằng bản thân văn hoá của họ cao cấp hơn về điều kiện công nghệ, và chất lượng cuộc sống thì chưa chắc đã bị tác động biến đổi.
Nhìn về quá khứ thì sự tương tác văn hoá diễn ra mạnh nhất là qua những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa các đế chế quyền lực - chiến tranh cũng là một sự giao lưu văn hoá. Nếu trong một xã hội tính chất văn hoá xã hội vượt trội lên hẳn và họ ý thức được về giá trị văn hoá của mình thì họ cũng không thể biến đổi. Điều này xuất hiện sau sự đổ vỡ của đế chế La Ma cổ đại trong suốt thế kỷ thứ năm sau Công Nguyên, kết quả là những cuộc xâm lược được lặp đi lặp lại bởi những bô lạc người Đức trội hơn về sức mạnh quân sự. Người La Mã đã không chấp nhận ngôn ngữ và những kiểu văn hoá xa lạ của những kẻ xâm lược. Một điều trái ngược là, người Gô tích và những bộ lạc người Đức khác nói chung đã chấp nhận đạo Cơ Đốc của La Mã cổ đại, và xem Latin như là thứ ngôn ngữ chung.
Một xã hội mà sự tương tác với xã hội khác trong một trạng thái trội hơn về sức mạnh quân sự, và những ý thức về văn hoá bị xếp xuống hàng thứ yếu thì hoàn toàn có thể bị biến đổi. Trường hợp của các bộ lạc người Đức và đế chế La Mã thế kỷ thứ 5 như đã nêu trên. Cũng như trường hợp của người Mông Cổ ở miền bắc Châu Á dưới thời Thành Cát Tư Hãn chinh phục Trung Quốc bắt đầu từ năm 1211 đến năm 1297 dưới thời Hốt Tất Liệt. Nước Trung Hoa rộng lớn, kiêu ngạo bị nước Mông Cổ mới lập ít dân hơn nhiều bị chinh phục hoàn toàn, bằng bản tính hung bạo của một bộ tộc du mục thoát thai từ xã hội nguyên thuỷ. Cũng chính vì lý do đó họ đã chấp nhận văn hoá Trung Hoa, trong vòng một thế hệ họ đã bị biến đổi bởi chính dân tộc mà bị họ đánh bại trong chiến tranh.
Sự tương tác giữa các xã hội mà có những sự ngang bằng về công nghệ cũng như kỹ thuật quân sự hiếm khi có kết quả. Đây là một sự thật đặc biệt nếu cả hai xã hội tin tưởng vào bản thân họ về phương diện văn hoá. Nước Anh và nước Pháp đương đại là một ví dụ, không có một sự truyền bá các đặc tính văn hoá xa lạ một cách ồ ạt, và họ vẫn giữ được vốn văn hoá thuần khiết của dân tộc mình.
Một số nền văn hoá dường như có vẻ khác nhau thật, mặc dù chúng nảy sinh từ một thân cây chung, chúng cũng không thể khác nhau theo kiểu hai xã hội chưa hề có quan hệ với nhau trong một thời điểm phát triển nào cả, vậy mà như trường hợp đế chế cũ của người Incas ở Pesrou và đế chế cũ của Dahomey ở Châu Phi khác nhau một cách tuyệt đối, hơn sự khác nhau giữa Anh và Mĩ hiện nay. Ngược lại những xã hội tiếp xúc mật thiết với nhau gần đây có vẻ như thuộc về một nền văn minh giống nhau, trong khi thật ra chúng đat tới nền văn minh đó bằng những con người khác nhau mà người ta không thể kết luận một cách vội vàng, như trường hợp hai quốc gia láng giềng Việt Nam và Trung Quốc chẳng hạn.
Tính đa dạng và mức độ của nó đảm bảo sự vận động giữa các nền văn hoá, trong một nền văn hoá, bên trong mỗi xã hội, trong tất cả các nhóm tạo thành xã hội đó, và các mối liên hệ giữa chúng. Phải chăng tính đa dạng này tăng thêm hay giảm đI là do mức độ thuần nhất giữu các nền văn hoá khác nhau?
SỰ BIẾN ĐỔI VÀ ĐỀ KHÁNG LẠI SỰ BIẾN ĐỔI
* Sự cô lập cũng như sức đề kháng, nó làm cho mọi nền văn hoá trở nên huyền bí.
Mọi nền văn hoá đều biến đổi theo thời gian. Không có một nền văn hoá nào tồn tại lâu trong một trạng thái tĩnh. Một chủng tộc người bất kể ở đâu Châu Á, Châu Phi hay Châu Mĩ đều có sự đóng góp nhất định cho nền văn minh chung của nhân loại bởi những nét đặc trưng văn hoá họ mang, qua một tiến trình biến đổi thăng trầm vô cúng phức tạp của một loạt các yếu tố ngoại vi như: tình trạng môi trường địa lý tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử, và các đặc điểm giống nòi riêng biệt... Gần như ngay lập tức đối với mọi nền văn hoá, cùng lúc với sự ảnh hưởng và biến đổi, xu hướng đề kháng xuất hiện. Nó cần thiết để duy trì văn hoá một cách cơ bản. Có một vài sự đề kháng có hiệu quả , ví dụ như ban hành các đạo luật nhằm gìn giữ và bảo vệ những kiểu mẫu văn hoá truyền thống, trong khi đó cũng có những phản ứng khác chỉ mang tính bộc phát gây ra những ý kiến trái ngược và một kết quả không mong đợi, ví dụ: chính phủ Pháp ngăn cấm việc sử dụng tiếng Anh thương mại tương đương với tiếng Pháp, là một phản ứng đặc biệt với sự lan rộng việc sử dụng các ngôn ngữ đại chúng như “ sandwich” hay “ floppy disk”.
Sự biến đổi nó là động lực khuyến khích và cổ vũ việc đặt ra những vấn đề , đưa ra những ý tưởng mới, trong khi mọi thứ khác lại yêu cầu sự ổn định bất di bất dịch. Nhưng nó có thể đưa đến những kết cục về một tình trạng tâm lý xã hội hỗn độn, cũng như có thể gây ra những phản ứng tiêu cực kiểu dạng như sự “ tự cô lập”. nếu ở đó không có một nguồn lực khả dĩ có thể giữ gìn , kháng cự lại sự biến đổi
Có ba dòng vận động cơ bản là động cơ dẫn đến sự thay đổi cũng như là nguồn lực đề kháng lại chúng đó là:
1. Tổ chức điều hành xã hội
2. Lề lối giao tiếp ứng sử trong xã hội
3. Sự biến đổi môi trường tự nhiên
Trong giới hạn một xã hội, tiến trình dẫn đến sự thay đổi bao gồm cả sự sáng tạo làm giàu thêm như những tổn thất về văn hoá. Sự sáng tạo cũng có thể là cả hai mặt về công nghệ lẫn hệ tư tưởng. Sự tổn thất về văn hoá cũng là một hậu quả không thể tránh khỏi. Hiển nhiên rằng các kiểu mẫu văn hoá cũ đang dần bị thay đổi bằng những kiểu mẫu mới. Ví dụ như: không có nhiều người Mĩ hiện nay biết cách chăm sóc ngựa, và khi nó không còn là phương tiện giao thông cơ bản. Thì kiến thức về ngựa cũng mất đi dần tầm quan trọng của nó. Kết qủa là trẻ con từ đó ít được dạy dỗ về các kỹ năng đó, chúng được học cách sử dụng những phương tiện thông tin mới như: vô tuyến truyền hình, máy ghi âm thanh nổi, điện thoại và máy vi tính. Trẻ con Việt Nam ngày nay từ lâu lắm rồi chúng cũng đâu còn được dạy cho nghe về những câu đồng dao, những trò chơi dân gian mang đậm tư tưởng giáo dục, quốc hồn quốc tính, thay vào đó là những trò chơi tiếp thu từ những nền văn minh phương Tây đưa lại. Những nhân tố văn hoá thuần khiết đó nực cười rằng chúng chỉ còn tồn tại trong tâm thức của những bậc cao niên ở một nơI hẻo lánh xa xôI nào, chứ không phảI ở những nơi mà chúng ta vẫn cho là kinh đô ánh sáng.
Bên trong cấu trúc xã hội, tiến trình biến đổi nó làm phát sinh một sức đề kháng, những lề thói tập tục và sự thống nhất của các đặc trưng văn hoá. Những người già, họ là những trường hợp đặc biệt, thường dè dặt trong việc thay thế những tiện nghi sinh hoạt quen thuộc, những nét văn hoá lâu đời gắn bó. Lối cư xử quen thuộc đó cung cấp cho người ta một cảm giác an toàn trong thế giới đầy biến động. Tôn giáo cũng vậy nó luôn luôn là một sự xoa dịu mạnh mẽ và chống đỡ lại những tác động, duy trì sự thịnh vượng của truyền thống. Vào cuối thế kỷ 20 này điều đó đã trở thành sự thật một cách đặc biệt ở một số quốc gia theo đạo hồi như Iran, Saudi Arabia, Afganistan, và Pakistan.
Trên thực tế các nền tảng văn hoá, các tầng lớp văn hoá chúng tích hợp và phụ thuộc lẫn nhau đó là điểm chính yếu để kháng cự lại sự biến đổi. Ví dụ, vào cuối thế kỷ 20 chúng ta chứng kiến sự gia tăng vai trò của người phụ nữ, đó là sự phản kháng mặc dù họ thực hiện vai trò đó một cách tốt đẹp thậm chí tốt hơn cả những người đàn ông, bởi vì người ta có quyền đặt mình vào một vị trí mà có thể thực hiện vai trò của mình một cách tốt nhất. Để có được điều đó thì cần có một sự tích hợp, loại tích hợp văn hoá này nó sẽ tự điều chỉnh một cách từ từ xoa dịu sự biến đổi. Cũng cần thiết phải nói rằng đây cũng chính là điểm mà nó có thể làm thất bại những ai có ý muốn làm thay đổi và gánh nặng đặt lên vai những nhà cải cách xã hội .
Có ba tiến trình cơ bản, là nguồn gốc dẫn đến sự biến đổi văn hoá, nguyên nhân của sự tương tác xã hội.
1. Sự truyền bá.
2. Sự đồng hoá.
3. Sự biến tính.
Sự truyền bá văn hoá là sự chuyển dịch của các hiện tượng, tư tưởng của một nền văn hoá này sang một nền văn hoá khác. Nhưng ý nghĩ về nguồn gốc văn hoá của nó thì không. Khi lần đầu tiên Mc Donald mang các loại bánh Hambergers tới Moscow và Beijing, chúng đã được thừa nhận như một thứ thức ăn xa xỉ dành cho những nhu cầu đặc biệt bởi vì chúng khá đắt và mang tiếng là hàng nhập từ nước ngoài vào. Còn tại Mĩ, tất nhiên chúng mang một ý nghĩa hoàn toàn khác, chúng là món ăn thông thường hàng ngày. Ở Việt Nam kể từ khi giao lưu với văn hoá phương Tây, chúng ta đã biết vận quần Tây, biết kỉ niệm ngày sinh của người thân thay vì chỉ nhớ ngày mất như trước kia. Và cũng chẳng biết từ bao giờ chúng ta rủ nhau đi chơi Noen dù rằng bản thân chưa một lần biết làm dấu thánh - một trào lưu nhất thời, cũng như những hiện tượng khác tương tự, nó tồn tại hay mất đi trong cơ chế phức tạp của sự biến đổi. Ngoài lối ăn uống truyền thống, một số người Việt đã biết ăn cơm Tây, tức là dùng dao, dùng nĩa tại gia đình hoặc nhà hàng. Nhưng lối ứng xử về ngôi vị trong nếp ăn uống truyền thống không vì thế mà mất đi, “ Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”, hay “ ăn có mời làm có khiến”, phản ánh trạng thái tình cảm, ý nghĩa nhân văn, mà cội rẽ là mối quan hệ gắn bó cộng đồng từ sinh hoạt đến sản xuất của dân tộc.
Đồng hoá là những gì xảy đến với tổng thể của một đất nước, một dân tộc, khi sự truyền bá những đặc tính xa lạ diễn ra trên một quy mô rộng lớn và triệt để về căn bản thế chỗ các kiểu văn hoá truyền thống. Sau một vài thế kỷ đàn áp không thương xót của người Châu Âu, người dân Mĩ phải chấp nhận đồng hoá trên một quy mô rộng lớn. Cùng chung số phận như vậy, phần đông người Mĩ gốc Ấn Độ ( xưa kia là thổ dân của châu Mĩ ) ngày nay nói tiếng Anh quên đi ngôn ngữ tổ tiên ông bà của họ, vận quần áo theo phong cách của người Châu Âu, thế giới quan theo kiểu của người Châu Âu, và nhìn bản thân họ dần trở thành một bộ phận nhỏ trong xã hội phương Tây rộng lớn. Đây là một nguy cơ rất lớn đối với một xã hội đang trong trạng thái tương tác biến đổi trước một loạt yếu tố ngoại cảnh, nó đã xảy ra, và được lịch sử ghi nhận như một trong những bước ngoặt.
Sự biến tính trong khi sự đồng hoá là những gì xảy ra đối với tổng thể của một nền văn hoá khi những đặc tính xa lạ tràn ngập nó, thì sự biến tính lại là những gì xảy ra với một cá nhân, khi anh ta hoặc cô ta, chuyển tới sinh sống tại một xã hội khác và chấp nhận văn hoá của nơI đó. Trường của những người dân nhập cư, những người đã thành công trong việc học tập ngôn ngữ cũng như chấp nhận các dạng văn hoá của xã hội mới nơi họ gia nhập, thì đó là sự biến tính. Ngược lại, những người dân di cư bỏ xứ sở mà đi, cô lập trong một xã hội ở một mảnh đất ngoại quốc xa xôi nào đó trong nhiều năm, mà không có tham vọng trở thành người dân bản địa tham dự vào sự đồng hoá của dòng văn hoá chủ đạo, thì đó không phải là sự biến tính. Trường hợp điển hình của những cộng đồng người Trung Quốc ở nước ngoài, đó cũng là cách họ tự tồn tại và cao hơn nữa là phổ biến, truyền bá vốn văn hoá quốc nội của họ - một điều phi thường!.
Cuối cùng cũng là điều quan trọng bậc nhất quá trình biến đổi xuất hiện một sự sáng tạo trong xã hội, kết quả truyền bá đến từ một xã hội khác, đó cũng được xem như là một tác nhân kích thích sự truyền bá văn hoá. Sự sáng tạo ra đại số và các phép tính toán học, sự sáng tạo ra nghị viện, quốc hội hay thế việc giao phó vận mệnh quốc gia vào tay hoàng tộc, vương triều nào đó qua những sắc lệnh chiếu chỉ. Những sáng tạo công nghệ mới bao gồm công cụ, các nguồn năng lượng, các phương thức vận tải tốt hơn, nhẹ nhàng hơn và những sáng tạo mang tính phù du chóng tàn như các kiểu mẫu quần áo, các loại đồ trang sức.
Một sáng tạo chân chính! Nó như là một tia sáng loé lên trong tư tưởng bắt nguồn từ một nền văn hóa khác, đó là trường hợp vào khoảng năm 1821, tại Cherokee ấn Độ một người có tên là Sequoyah lần đầu tiên nhìn thấy người Anh viết điều đó đã kích thích anh ta sáng tạo ra một hệ thống chữ viết độc nhất vô nhị cho dân tộc anh. Một phần của bảng chữ cái của anh ta được minh hoạ dưới đây. Lưu ý rằng một vài kí tự giống với tiếng Anh còn những chữ khác thì không.
(pic)
Điều đó cũng tương tự trường hợp người Ai Cập cổ đại khoảng chừng 3050 trước công nguyên, họ sáng tạo ra hệ thống chữ tượng hình (hieroglyphic) sau khi được học về hệ thống chữ hình nêm (ví dụ chữ người Ba Tư xưa ). Ở Việt Nam chữ Nôm được sáng tạo trên nền Hán tự đó là một thứ ngôn ngữ riêng biệt của dân tộc, được dùng để ghi tên làng, tên nước vào sổ sách chứng từ công văn, người dân dùng chữ Nôm để ghi tên làng xóm vào các văn bia, khế ước, gia phả... đó là một thay đổi lớn lao trước sức mạnh văn hoá ồ ạt tràn xuống từ phương Bắc trong một thời gian dài với mưu đồ thôn tính, đồng hoá.
Điều đó cũng tương tự trường hợp người Ai Cập cổ đại khoảng chừng 3050 trước công nguyên, họ sáng tạo ra hệ thống chữ tượng hình (hieroglyphic) sau khi được học về hệ thống chữ hình nêm (ví dụ chữ người Ba Tư xưa ). Ở Việt Nam chữ Nôm được sáng tạo trên nền Hán tự đó là một thứ ngôn ngữ riêng biệt của dân tộc, được dùng để ghi tên làng, tên nước vào sổ sách chứng từ công văn, người dân dùng chữ Nôm để ghi tên làng xóm vào các văn bia, khế ước, gia phả... đó là một thay đổi lớn lao trước sức mạnh văn hoá ồ ạt tràn xuống từ phương Bắc trong một thời gian dài với mưu đồ thôn tính, đồng hoá.
Đôi khi có những giá phải trả, kết quả của sự đề kháng lại sự biến đổi , sự đua tranh về cảm xúc, nhận thức. Thuyết vị chủng cũng có thể đưa người ta vào tình trạng như vậy, vất vào tự nhiên, gạt ra ngoài văn hoá, tất cả những gì không phù hợp với chuẩn mực mà họ đang sống theo nó, từ chối không chấp nhận tính đa dạng văn hoá. Thời cổ đại người ta đã đặt tất cả những gì không có trong nền văn hoá Hy Lạp ( rồi Hy Lạp - La Mã ) vào tên gọi “ dã man”. Người ta cũng thường sử dụng từ “ dã man” theo nghĩa này. Với thái độ tư duy đó, người ta đã vất những “ hiện tượng dã man” ( theo cách dùng của họ ) ra khỏi xã hội loài người - đó đúng là thái độ rõ rệt, nổi bật nhất của chính những người dã man.
Bản chất của sự tương tác là do động cơ của các nhóm người có cùng hoặc không có cùng quyền lợi, kết quả thường thường là sự đề kháng lại biến đổi hoặc sự đồng hoá. Mọi cơ chế hoạt động biến đổi bên trong và giữa các xã hội sẽ được nắm bắt trật tự có trật, dễ dàng hơn trong giản đồ giản lược sau:
(pic)
Để có thể tiếp cận, thấu hiểu những sự biến đổi văn hoá một cách triệt để, thì nhất thiết phải bao gồm cả sự xem xét cân nhắc đến tình trạng môi trường cụ thể tồn tại xung quanh xã hội. Ví như sự suy thoái môi trường, về nguồn cung cấp nước sạch, đất trồng trọt, các nguồn năng lượng, về phương diện lịch sử, hay kết quả của sự sáng tạo qua những phát minh mới, sự di cư…
Hiện nay những cụm từ về một sự “ nhảy vọt”; một sự “ đón đầu” thường xuyên được nhắc tới. Những điều này nếu không được hiểu đúng bản chất thì sẽ đưa đến một sự lừa phỉnh chính bản thân mình. Bởi một lẽ những cái mà chúng ta muốn “ đón đầu” để xây dựng cho xã hội trước hết ta hiểu chúng chỉ là những hiện tượng bộc phát của một quá trình biến đổi tích luỹ lâu dài của một nền tảng khoa học kỹ thuật, một hệ tư tưởng và một loạt các điều kiện khách quan vô cùng phức tạp của một xã hội khác “ tiến bộ hơn”. Khi hướng tới mục đích đó, lẽ dĩ nhiên ta không thể có được một quá trình tích luỹ tương tự, thì hậu quả thu được sẽ là một kết cục hoàn toàn khác - kết cục đó là hậu quả của việc không ý thức được vốn văn hoá của mình. Điều đó phải ý thức được một cách sâu sắc nếu không muốn thụ động với sự biến đổi của chính mình và sự tổn thất văn hoá là không tránh khỏi. PhảI bắt đầu tích lũy, bồi đắp một cách có hệ thống, bắt đầu từ những hạt nhân cơ bản trong xã hội.
Sự tiến bộ không phải như một chuyển động vật lý đi từ điểm A đến điểm B, mà đó là một quá trinh tiệm tiến với những giới hạn phải đối mặt và phải bước qua.
Xét một xã hội trong trạng thái tĩnh tại cũng như xu hướng vận động của nó:
(pic)
Những nhân tố sinh động hay những hạt nhân cơ bản ở đây nó là các nhóm hình thành bên trong một tổ chức xã hội đó là: các đẳng cấp, các giai cấp, các giới nghề, các tổ chức tôn giáo hay nhỏ hơn nữa là gia đình. Nếu trong một cấu trúc ổn định thì các nhân tố này có tính chất quyết định đi đầu trong việc biến đổi cũng như đề kháng lại sự thay đổi. Trong khi đó các giá trị truyền thống thì luôn biểu hiện một xu hướng ổn định - nó ẩn hiện phụ thuộc vào ký ức của cộng đồng. Những nhân tố sinh động nó phải được kích hoạt trong một tổ chức quản lý - thiết chế xã hội và một phương thức liên hệ giữa chúng, chúng có quyền đòi hỏi phải được sử dụng đúng mục cách, bởi vì nó chính là động cơ cơ bản làm lên tính đa dạng của văn hoá - là mọi hy vọng mong muốn bảo lưu các giá trị cổ truyền. Vấn đề thật phức tạp, sự tiến bộ không phảI là những nấc thang để dựa vào đó lý giải cho những vấn đề đương đại, đưa ra một lời khuyên cụ thể cho một xã hội cụ thể, kết cục thường chỉ là những tiền đề sáo rỗng, một trạng thái không an toàn, nó bế tắc bởi sự vận động của cấu trúc xã hội - của cấu trúc biến đổi văn hoá. Mọi chuyện chỉ mới bắt đầu .
2001


0 Nhận xét:
Đăng nhận xét
Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]
<< Trang chủ