Theory of City Form, Spring 2004 - Lecture 13
Theory of City Form, Spring 2004 - Lecture 13
Lecture 13 – Chủ nghĩa không tưởng
Utopianism
Utopianism Handout : Một vài thời điểm của giai đoạn thế kỷ 18 đến thế kỷ 20 của chủ nghĩa đô thị không tưởng - urban utopianism.
Đô thị từng bước một đã có rất nhiều cuộc cảI cách nhưng không thể vượt qua bản chất bất ổn của nó; cho nên thế kỷ 19 cũng đã là thời gian của “sự mọng đợi to lớn - great expectations” và sự lựa chọn cho cấu trúc xã hội và cấu trúc vật chất của xã hội của một thành phố có rất nhiều, thường được hình dung một vị thế cách xa so với thực tại. More 's 16th century Utopia / Eutopia was both a good place and no place, an island of 54 cities where no private possessions would be tolerated. Mọi điều không tưởng đều được xây dựng trong trạng thái chống đối lại một xã hội bệnh hoạn: gia đình suy thoái (the Kibbutz separating child-rearing); nghiện ngập và bị xa lánh (Owen's reform of character); già cỗi thiếu khả năng (the abstinence of Shakers); Chủ nghĩa đạo đức (Fourier's communal passion); xã hội công nghiệp bừa bãi lộn xộn (paternal factory towns of Pullman, Saltaire and Noisel-sur-Marne); quá tập trung hoá (the distributionism of Kropotkin and Morris). Hầu hết các quan điểm đó đều bị lung lay xung quanh sự khó khăn của việc duy trì quy luật tự nhiên ("the middle landscape") và tâm linh ("to be yourself and also a group") các giới hạn, sức mạnh của những ý niệm đó thâm nhập vào xu hướng đô thị hoá : thí dụ Rue interieure của Fourier. So sánh cấu trúc xã hội của chúng với nhau, kiến trúc của chúng đều mang tính thủ cựu (Considerant's phalansteries or Verne's "super-Krupp" city) hoặc những nỗi khổ không có đủ sức mạnh nội tại để đổi mới một cách tự nhiên. Một ý tưởng có giá trị đã bị tranh cải là trường hợp ở Nga sau năm 1917. Thời gian những ý tưởng không tưởng đều bắt nguồn từ những con người bình thường, được phê bình bởi Marx, tầm ảnh hưởng của nó lan rộng: Tác động tới Gandhi và nông trường của Tolstoy ở Johannesburg, ví dụ. Đối lập với những ý tưởng đã được kích động, bài viết của Morris về sự bỏ rơi của London trong News from Nowhere sau khi đọc công xã Paris của Bellamy phiên bản của Boston trong Looking Backward.
Với những kiến trúc sư những người hướng tới một sự lựa chọn mới cho các thành phố hiện đại, đặt trọng tâm vào tổ chức hình dáng cấu trúc của thành phố, những ý tưởng thường bị vay mượn về một xã hội sẽ nuôi sống chúng. Garnier, là ví dụ, đề xuất về một thành phố công nghiệp mới được công bố vào năm 1917, biện luận rằng không cần thiết về những thể loại cụ thể cho công trình trong thành phố của ông bởi vì “một xã hội mới, cai trị bởi luật pháp của chủ nghĩa xã hội, sẽ không cần đến nhà thờ, và như vậy, khi chủ nghĩa tư bản sẽ bị đàn áp, sẽ không có kẻ lừa đảo, cướp giật hoặc tội phạm” Thành phố của Garnier hoàn toàn bằng bê tông với các toàn nhà hình tròn tại các góc và ứng dụng các công nghệ sản xuất ôtô và máy bay. Trong giới hạn của nó trông giống như một thành phố công nghiệp thuộc chế độ gia trưởng.
Một kiến trúc sư vĩ đại, Ler Corbusier, có một nhận thức cơ bản rằng câu trả cho hết thảy vấn đề đô thị nằm ở việc tạo ra một “right plan”, một công cụ mang tính độc lập thích đáng với bất kỳ một hệ tư tưởng của một thế lực nào. Quy hoạch của ông vào năm 1922 cho một thành phố hiện đại với khu vực thương mại ở trung tâm, phương án quy hoạch Voisin cho Paris của ông đã bị những người tư bản chủ nghĩa loại bỏ 3 năm sau đó. Năm 1930 quy hoạch Moscow của ông cho những người theo chủ nghĩa công đoàn, với khu nhà ở nằm ở trung tâm, hiện tại không tìm thấy một sự thiện chí nào từ phía những người cộng sản. Bị làm nản lòng bởi những người dân thành thị Algier thiếu khả năng để chấp nhận rất nhiều quy hoạch của ông cho những thành phố của họ từ năm 1933 đến năm 1940, bấy giờ ông được sự cảm thông của những người theo chủ nghĩa phát xít của chính quyền Vichy và đã viết thư cho Mussolini nhờ giúp đỡ. Phải đợi đến giữa thế kỷ để ông nhìn nhận quy hoạch một cách đầy đủ, cũng là thời gian cho thành phố thủ đô cho một nước Ấn độ mới.
Những tác phẩm của kiến trúc sư vĩ đại Frank Lloyd Wright thường khẳng định những dẫn giải về các thành phố, nhưng ông không bao giờ thiết kế một thành phố lớn. Ông đã viết những lý thuyết cao cấp như triết học được lấy từ rất nhiều nguồn ví dụ như của nhà kinh tế học Henrry George. Xây dựng trong vòng 40 năm. Wright đã thiết kế cho thành phố Broadacre, một khu định cư nhỏ cho 7000 người, trong suốt những năm cuối của cuộc đời. Những nguyên tắc của nó nằm trong quyền lợi rõ ràng của người Mỹ trong việc sở hữu những chiếc ôtô (trong năm 1929 hơn 5 triệu chiếc ôtô được làm ra ở Mỹ ), cảm quan về chất lượng và mức độ của các công việc nhỏ, trong cả sản phẩm nông nghiệp lẫn máy móc, một sự kết nối và sự am hiểu của công dân mặc cho sự cô lập tự nhiên của họ. Gây ra sự mở rộng của Broadacre đưa ra một sự lựa chọn không rõ ràng cho những người dân ngoại ô của Mỹ (,a sense of quality and scale of small enterprises, both in agricultural and machine-shop production, and a connected and informed citizenry despite their physical isolation. To what extent Broadacre represents an alternative to American suburbia is unclear). Meyer Shapiro có lẽ đã không công bằng khi nói rằng “ xã hội tưởng tượng của Wright không nên cùng giai cấp với những người theo chủ nghĩa không tưởng vĩ đại, những người mà ông có vẻ tương đồng - Wright's social imagination should not be classed with that of the great Utopians whom he seems to resemble”
Reading:
Benevolo. The Origins of Modern Town Planning. pp. 39-84.
Ciucci. The City in Agrarian Ideology and Frank Lloyd Wright. pp. 352-375.
Corbusier. The Radiant City. pp. 200-319.
Hayden. Seven American Utopias. Chapter 4.
Tafuri. The Crisis of Utopia: Le Corbusier at Algiers.
Tod, and Wheeler. Utopia. pp. 127-147.
Wiebenson. Tony Garnier: The Cite Industrielle.



0 Nhận xét:
Đăng nhận xét
Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]
<< Trang chủ