Nguyễn Hoàng

"...từ trong chính bạn hãy sửa chữa những khuyết tật của dân tộc mình ... Garcia Marque

Thứ Hai, 14 tháng 4, 2008

Theory of City Form, Spring 2004 - Lecture 5

Theory of City Form, Spring 2004
Lecture 5 - Descriptive and Functional Theory
Handout (PDF): On "reading" the city: Ruskin and Engels.


Hơn cả những ý tưởng quy chuẩn khác, và những phương pháp để đạt được một cấu trúc thành phố tốt , có một phần chính yếu của hệ thống khoa học xã hội đô thị xây dựng từ thế kỷ 19 trong đã cố gắng giảI thích thành phố là một cáI gì đó khác với những gì người ta đã nói. Khóa học này kháI quát các phạm trù chính của công việc đó.
Trong ví dụ đầu tiên, thành phố được quan tâm như một tiến trình lịch sử duy nhất. Có một số lượng tác phẩm dồi dào viết về lịch sử đô thị thuyết giảng về nguồn gốc văn hóa đặc biệt của đô thị. Đừong phố bị đặt vào tầm quan sát, “nghiên cứu ” như Ruskin hình dung về nó, và việc “nghiên cứu” Venice (Ruskin) đựơc so sánh với việc nghiên cứu Manschester (Engels), cũng như với Benjamin, Norberg-Schulz và Rasmussen. Trong ví dụ thứ 2, thành phố được quan tâm như một khoa sinh thái học về con người, mỗi nhóm xã hội chiếm lĩnh một không gian tùy thuộc vào vị trí và tầng lớp kinh tế. Bắt nguồn từ những sự xác nhận chung về xã hội học của thành phố (Weber, Simmel and Spengler), công việc của trường Chicago, Park và Burgess dặc biệt đề xuất về sự đua tranh và điều chỉnh của các nhóm xã hội sẽ sản sinh ra một thành phố của những vòng tròn hướng tâm động từ trung tâm tới khu vực của những người thường xuyên đi lại bằng xe lửa, xe byút hoặc ô tô giữa nơi làm việc và nhà ở. Tuy nhiên, những nguồn lực ảo của tất cả các hệ sinh thái được bố cục theo mẫu có sẵn như vậy sẽ cho kết quả theo những dạng hình nan quạt. Cả hai trường hợp đã xác nhận không gian như một môI trường trung lập thông qua sự tương tác giữu các nhóm xã hội.
Phạm trù thứ 3 xem xét thành phố như một cỗ máy kinh tế, không gian của nó không giống như phạm trù trước, là cả hai đều không những có những yếu tố tác động tới kinh tế mà còn cả vào nguồn lực cho sản xuất và tiêu thụ. Ở một quy mô toàn vùng, bố cục vị trí trong trường hợp một khu sản xuất công nghiệp nặng nên được phân khu chức năng về vật liệu thô, nhân công và thi trường tiêu thụ sản phẩm (Isard). Trong trường hợp phân bố nông nghiệp, các mô hình xắp xếp một cách có hệ thống cũng xuất hiện (Von Thunen), như sự tạo ra khu vực các không gian trung tâm cách nhau đều đặn dựa trên khu chợ hình lục giác (Chiristaller). Trong bản thân thành phố cấu trúc của nó được bàn luận xunh quanh sự tự nguyện hoặc tiềm năng của các nhóm người khác nhau trả tiền để thuê một khu đất tách biệt hoặc gần khu trung tâm, nó diễn tả một đường vòng cung cho mỗi nhóm phạm vi hoạt động (Alonso).
Trường hợp thứ tư xác nhận thành phố như một phạm trù của quyền lực, một mạng lưới giao tiếp của các mô đun nhỏ hấp dẫn và triệt tiêu lẫn nhau giống như trog vật lý học. Phụ trợ cho ý tưỏng đó bao gồm cả tiềm năng về dân cư, các mô hình hấp dẫn, lưu lượng thông tin và các dạng hình học topo khác nhau. Một phạm trù khác đề xuất rằng một sự diễn tả thích đáng nhất về cấu trúc chức năng của một thành phố nằm ở việc hiểu thành phố như một hệ thống mắt xích các quyết định liên tiếp. Một dạng khác tập trung vào quyết đinhị được đưa ra bởi một thế lực trong cộng đồng (Forrester), những dạng khác thì tập trung vào việc tham gia của cộng đồng dân cư trong một thành phố dân chủ, và bây giờ thành phố như một trò chơi trong đó con người tác động lẫn nhau tuỳ thuộc vào những nguyên tắc bất di bất dịch và tác động của sản xuất hàng hoá. Một pham trù cuối cùng, mang tính ý tưởng dứt khoát hơn, loại bỏ những lý thuyết trước đây về cạnh tranh và thừa nhận thành phố như một đấu trường của các sự xung đột, trong đó cấu trúc đô thị là phần còn lại và biểu hiện của sự tranh chấp, và cũng có một thứ gì đó được tạo ra và sử dụng để thúc đẩy cho nó. (Castells, Harvey. Lefebvre, Gordon)

Reading:
Benjamin. Reflections.
Forester. Systems Analysis as a Tool for Urban Planning. pp. 13-28.
Gordon. Capitalism and the Roots of Urban Crisis. pp. 82-112.
Meier. A Communications Theory of Urban Growth. Chapter 1.
Norberg-Schulz. Genius Loci. Chapter 4 or 5 or 6.
Richardson. The New Urban Economics: And Alternatives. pp. 7-30.
Ruskin. The Stones of Venice.

Nhãn:

0 Nhận xét:

Đăng nhận xét

Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]

<< Trang chủ