Trừu tượng - ABSTRACTION
Trừu tượng
From Wikipedia, the free encyclopedia (English)
“Những biểu tượng về những suy tư trừu tượng có thể tìm thấy từ những hoá thạch trong khoảng thời gian 50.000 và 100.000 năm trước đây ở Châu Phi lục địa.”
Mục lục
1 Quá trình tư duy - Thought process
2 Vật được nói đến - Referents
2.1 Thuyết minh bằng ví dụ cụ thể - Instantiation
2.2 Vật chất học - Physicality
3 Trừu tuợng được sử dụng trong triết học - Abstraction used in philosophy
3.1 Trạng thái hữu thể - Ontological status
3.2 Trong ngôn ngữ học - In linguistics
3.3 Sự cô đọng - Compression
4 Thần kinh học về trừu tượng - The neurology of abstraction
5 Trưu tượng trong nghệ thuật - Abstraction in art
6 Trừu tượng trong tâm lý học - Abstraction in psychology
7 Chú thích - Notes
8 Tham khảo - References
From Wikipedia, the free encyclopedia (English)
“Những biểu tượng về những suy tư trừu tượng có thể tìm thấy từ những hoá thạch trong khoảng thời gian 50.000 và 100.000 năm trước đây ở Châu Phi lục địa.”
Mục lục
1 Quá trình tư duy - Thought process
2 Vật được nói đến - Referents
2.1 Thuyết minh bằng ví dụ cụ thể - Instantiation
2.2 Vật chất học - Physicality
3 Trừu tuợng được sử dụng trong triết học - Abstraction used in philosophy
3.1 Trạng thái hữu thể - Ontological status
3.2 Trong ngôn ngữ học - In linguistics
3.3 Sự cô đọng - Compression
4 Thần kinh học về trừu tượng - The neurology of abstraction
5 Trưu tượng trong nghệ thuật - Abstraction in art
6 Trừu tượng trong tâm lý học - Abstraction in psychology
7 Chú thích - Notes
8 Tham khảo - References
Trừu tượng là một quá trình hoặc một kết quả của sự khái quát hoá bằng cách làm biến đổi sang một trạng thái đơn giản hơn về thông tin chứa đựng trong một ý niệm hay một hiện tượng nào đó có thể nhận biết được - observable phenomenon, chỉ những thông tin tiêu biểu có liên quan đến một ý định đặc biệt nào đó được giữ lại. Thí dụ, ý niệm trừu tượng một quả bóng da huớng tới một quả bóng chỉ níu giữ lại những thông tin về thuộc tính và động thái của quả bóng nói chung. Tương tự, trừu tượng về hạnh phúc đi tới một trạng thái cảm xúc kết tinh của những giá trị thực chất về những ý niệm truyền tải về trạng thái hạnh phúc. Những người làm công nghệ vi tính còn sử dụng trừu tượng để hiểu biết và giải quyết và tương tác với những giải pháp của họ với máy tính trong một vài ngôn ngữ máy tính đặc thù.
Quá trình tư duy
Trong thuật ngữ về triết học - philosophical terminology, trừu tượng là một quá trình tư duy về những ý niệm ở một khía cạnh nào đó tách ra khỏi đối tượng được tư duy.
Trừu tượng được sử dụng nhằm mục đích về một sự đơn giản hoá, những chi tiết về mặt vật chất thông thường ở một mặt nào đó bị làm cho nhập nhằng, lờ mờ, hoặc là mơ hồ; vì vậy hiệu quả thông tin về sự vật nào đó trong trừu tượng đòi hỏi một trực giác hoặc một sự trải nghiệm chung giữa người truyền tin và người tiếp nhân thông tin.
Điều này đúng cho tất cả mọi giao tiếp bằng câu chữ mang tính chất trừu tượng.

Con mèo trên thảm (ảnh 1)
Ví dụ, có rất nhiều sự vật khác nhau có thể mầu đỏ. Tương tự như vậy, rất nhiều thứ ngồi trên những bề mặt (như ảnh 1). Thuộc tính của màu đỏ và mối liên hệ sitting-on vì thế là trừu tượng của những khách thể đó. Đặc biệt, biểu đồ mang tính khái niệm graph 1 chỉ xác định 3 hình hộp, hai hình e-lip, và bốn mũi tên (và chúng có chín hình thể), thật trái ngược khi ảnh 1 đưa ra những chi tiết hình ảnh, thì với những hàm ý bao gồm trong những mối quan hệ tiềm ẩn trong bức ảnh nhiều hơn chín chi tiết rõ ràng trong biểu đồ.
Biểu đồ 1 trình bày một vài mối quan hệ tiềm ẩn giữa các đối tượng của biểu đồ. Ví dụ, mũi tên giữa Agent và Cat:Elsie miêu tả một ví dụ về mối liên hệ is-a, cũng như mũi tên giữa Location và Mat.
Biểu đồ ý niệm cho bức ảnh Con mèo ngồi trên tấm thảm (Biểu đồ 1)
Mặc dù sự diễn tả sitting-on (biểu đồ 1) là trừu tượng hơn hình ảnh sinh động của một con mèo trên một tấn thảm (ảnh 1), sự phác hoạ về trừu tượng từ một dạng vật chất cụ thể là một thứ gì đó rất mơ hồ, sự mơ hồ và nhập nhằng này là đặc tính của trừu tượng. Theo cách đó một thứ đơn thuần như một tờ báo cũng có thể xác định tới 6 mức độ, như trong minh hoạ của Douglas R. Hofstadter về đặc tính mơ hồ của nó, với một tiến trình từ trừu tượng đến cụ thể trong Gödel, Escher, Bach (1979):
(1) Sự xuất bản
(2) Một tờ báo
(3) Tờ San Francisco Chronicle
(4) Tờ Chronicle xuất bản 18 tháng 5
(5) Bản phô tô tờ Chronicle xuất bản 18 tháng 5 của tôi
(6) Bản phô tô tờ Chronicle xuất bản 18 tháng 5 của tôi đúng y như khi lần đầu tiên tôi đã lựa chọn nó (tương phản với bản sao của nó vài ngày sau đó: trong lò sưởi của tôi, đang cháy)
Một trừu tượng vì thế có thể tóm lược từng mức độ của chi tiết mà không mất đi tính tổng quát chung. Nhưng có lẽ một người tiên phong hoặc một triết gia/nhà khoa học/kỹ sư có thể tìm kiếm học hỏi được một điều gì đó, ở mức độ dần dần sâu sắc chi tiết hơn để giải quyết vấn đề khó hiểu này.
Vật được nói đến
Sự trừu tượng đôi khi có một vật mơ hồ nào đó được nói đến, “hạnh phúc” (hạnh phúc khi được sử dụng như một trừu tượng) có thể ám chỉ về rất nhiều thứ như con nguời và sự việc hoặc một trạng thái sống mà làm cho họ hạnh phúc. Tương tự, “kiến trúc” ám chỉ không chỉ thiết kế cho sự an toàn, công năng của công trình, mà còn cả những yếu tố về sự sáng tạo và cải tiến nhằm mục đích giải quyết một cách hài hoà những vấn đề trong xây dựng, cho đến việc sử dụng những không gian, và nhất là gợi lên những xúc động mỹ cảm trong người xây dựng, người chủ sở hữu, người thưởng ngoạn và người sử dụng công trình.
Thuyết minh bằng ví dụ cụ thể
Những thứ mà không tồn tại ở bất cứ một thời gian và một không gian đặc biệt nào thường được xem là trừu tượng. Trái lại, để ví dụ, những thứ trừu tượng có lẽ tồn tại ở rất nhiều không gian và thời gian khác nhau. những thứ trừu tượng như vậy thường được gọi là multiply instantiated (thuyết minh một thứ trừu tượng bằng thí dụ cụ thể )
Tuy nhiên có khả năng xác định những ý tưởng trừu tượng như những gì có thể diễn giải bằng những thí dụ cụ thể và xác định sự trừu tượng hoá bằng cách chuyển động theo hướng ngược lại với những gì có thể minh hoạ bằng những ví dụ cụ thể. Làm như vậy sẽ tạo ra những khái niệm ‘mèo’ và ‘điện thoại’ trừu tượng mặc cho sự hiện hữu biến thiên của nó, một con mèo hay một điện thoại riêng biệt là một thí dụ về khái niệm ‘mèo’ hoặc một khái niệm ‘điện thoại’. Mặc dù những khái niệm ‘mèo’ và ‘điện thoại’ là trừu tượng, chúng không trừu tượng theo chiều hướng của những đối tượng trong biểu đồ 1 trên đây.
Chúng ta sẽ xem xét những biểu đồ khác, trong sự tiến triển từ con mèo tới động vật có vú rồi sinh vật bốn chân, và nhìn nhận sinh vật bốn chân trừu tượng hơn động vật có vú; nhưng ở một mặt khác động vật có vú là một ý tưởng rõ ràng cho sự biểu lộ, mối quan hệ tất yếu với thú có túi – marsupial hoặc động vật đơn huyệt – monotreme
Vật chất
Một đối tượng vật chất (một vật có thể ám chỉ bằng khái niệm hoặc câu chữ) được xem xét một cách cụ thể (không trừu tượng) nếu nó là một cá thể riệng biệt chiếm chỗ trong một không gian và thời gian riêng biệt.
Những thứ trừu tượng đôi khi xác định như những thứ không tồn tại trong thực tế hoặc chỉ tồn tại qua cảm qua duy nghiệm, như màu đỏ. Tuy nhiên sự xác định của nó, chịu đựng sự khó khăn trong việc quyết định cái gì là có thực (thứ tồn tại trong thực tế). Ví dụ, rất khó có thể tán đồng mặc dầu những ý tưởng kiểu như God, the number three, và lòng tốt – goodness là có thật, trừu tượng hoặc cả hai.
Phương thức để giải quyết các vấn đề khó khăn như vậy là sử dụng những điều khẳng định – predicates như là những điều khoản chung cho bất cứ một thứ gì là cóp thực, trừu tượng, cụ thể, hoặc một thuộc tính riêng biệt nào. Câu hỏi về những thuộc tính của những thứ đã được chứng minh rằng đã được khẳng định, mà điều minh chứng đó vẫn còn có giá trị đối với những nhà thẩm tra. Trong biểu đổ 1 bên trên, minh hoạ mối quan hệ như những mũi tên nối hình chữ nhật và hình elip có lẽ biểu hiện một sự xác nhận. Những mức độ khác nhau về trừu tượng có lẽ được chứng tổ bởi một quá trình của những mũi tên nối những hình vuông và hình elip liên tục, nơi mũi tên chỉ vào từ chỗ này tới chỗ khác, trong một loạt các biểu đồ khác nữa.
Trừu tượng trong triết học
Trừu tượng trong triết học là một quá trình (có thể không được chứng minh) trong những khái niệm đặc thù - concept-formation về việc thừa nhận một vài đặc tính chúng của những cá thể đơn lẻ, và khái niềm về hình thức cơ bản của những đặc tính đó. Một khái niệm về trừu tượng là rất quan trọng để hiểu biết về một vài tham luận triết học xung quanh chủ nghĩa kinh nghiệm -và vấn đề về vũ trụ vạn vật. Gần đây cũng đã trở lên quen thuộc với lý luận học chính quy theo các điều khoản của sự trừu tượng hoá đã được minh chứng. Một công cụ triết học khác có thể thảo luận về triết học đó là Không gian suy nghĩ – Thought space.
Trạng thái hữu thể
Phương thức mà những đối tượng vật chất, giống như lá cây hòn đá, tồn tại không giống với những thuộc tính của các khái niệm trừu tượng hoặc các mối quan hệ trong tồn tại của nó, ví dụ phương thức của vật chất cụ thể, chi tiết, cá nhân minh hoạ trong ảnh 1 tồn tại khác biệt với những khai miện được minh hoạ trong biểu đồ 1. Sự khác biệt đó nói lên tính hữu ích của bản thể học đối với từ ‘trừu tượng’. Một từ áp dụng cho những thuộc tính và những mối quan hệ biểu hiển một thực tế rằng nếu chúng tồn tại, thì chúng không tồn tại trong không gian hoặc thời gian, nhưng trường hợp đó có thể tồn tại một cách tồn tại trong rất nhiều không gian và thời gian khác nhau.
Trong ngôn ngữ học
Sự đồ vật hoá - Reification, cũng được gọi là hyposatization, có lẽ được xem xét như một dạng thuyết nguỵ biện chính thức - formal fallacy bất kỳ một khái niệm trừu tượng nào, ví dụ như ‘xã hội’ hoặc ‘công nghệ’ đều được xem xét như một đối tượng cụ thể. Trong ngôn ngữ học điều này được gọi là hoán dụ - metonymy, ở đó những khái niệm trừu tượng được quy vào sử dụng các dạng danh từ giống nhau biểu thị cho các đối tượng cụ thể đó. Sự hoán dụ là một bộ phận của Anh ngữ và các ngôn ngữ khác. Nó có thể khác biệt một cách lờ mờ giữu trừu tượng và cụ thể:
1805: Horatio Nelson (Battle of Trafalgar) - "England expects that every man will do his duty"
Sự cô đọng
Một sự trừu tượng hoá có thể được xem xét như là một quá trình xắp xếp nhiều thành phần rời rạc khác nhau thành một chỉnh thể trừu tượng dựa trên sự tương hợp của các dữ liệu thành phần, ví dụ rất nhiều con mèo thực tế khác nhau để dẫn tới một ý niệm trừu tượng về MÈO. Khái niệm này nhấn mạnh sự ngang bằng cố hữu của cả dữ liệu thành phần và dữ liệu trừu tượng, vì vậy tránh những vấn đề nảy sinh từ sự khác biệt giữa ‘trừu tượng’ và ‘cụ thể’. Trong ý niệm này quá trình trừu tượng kế thừa những đặc tính tương tự giữa các đối tượng và quá trình kết hợp các đối tượng đó với một yếu tố trừu tượng (mà bản thân nó cũng là một thành phần)
Ví dụ, ảnh 1 trên đây minh hoạ một mối quan hệ cụ thể ‘Con mèo ngồi trên tấm Thảm’
Quá trình trừu tượng do đó có thể được xây dựng gợi ra từ sự hối thúc về mặt thần kinh gia tăng bởi cảm quan tri thức tới một sự trừu tượng cơ bản ví dụ như màu sắc hoặc hình dạng cho tới sự trừu tượng dựa trên kinh nghiệm như một con mèo cụ thể tới một con mèo trừu tượng trong ngôn ngữ -semantic abstractions - tới loại đối tượng khác như động vật có vú – mammals và thậm chí những phạm trù trái ngược như ‘hành động’ chẳng hạn.
Ví dụ biểu đồ bên trên diễn tả sự trừu tượng ‘một tác nhân ngồi trên một vị trí nào đó - agent sits on location’
Biểu đồ khái niệm này không kế thừa một dạng phân cấp tầng bậc - hierarchical taxonomy đặc biệt nào cả (ví như một người nào đó đề cập tới sự liên quan của mèo với động vật có vú), chỉ là một quá trình cô đọng về chi tiết.
Thần kinh học về trừu tượng
Một vài nghiên cứu về trí tuệ con người đề xuất rằng bán cầu não trái và não phải biểu hiện sự trừu tượng không giống nhau. Ví dụ, một sự phân tích về sự siêu biến đổi sau thương của bộ não con người chỉ ra rằng bán cần não trái có xu hướng được sử dụng nhiều hơn.
Trừu tượng trong nghệ thuật
Thông thường, sự trừu tượng hoá được sử dụng trong nghệ thuật đồng nghĩa với nghệ thuật trừu tượng – abtract art nói chung. Nói một cách nghiêm khắc, nó ám chỉ một thứ nghệ thuật lãnh đạm với những gì phàm tục có thể nhìn thấy bằng mắt của thế giới vật chất. Tuy nhiên nó có thể ám chỉ một đối tượng hoặc một hình ảnh mà đã tan chảy ra – distilled từ thế giới thực, hoặc quả thực nó là một công việc khác của nghệ thuật.
Nghệ thuật đã tái tạo một thế giới tự nhiên để phục vụ mục đích biểu hiện được gọi là trừu tượng; nghệ thuật bắt nguồn; nhưng không mô phỏng đối tượng có thể nhận biết gọi là trừu tượng phi đối tượng - nonobjective abstraction. Trong thế kỷ 20 xu hướng về sự trừu tượng trùng lặp với những tiến bộ khoa học, công nghệ, và thay đổi trong cuộc sống đô thị, cuối cùng là sự phản ánh một sự quan tâm về lý thuyến phân tâm học - psychoanalytic theory. Thời gian sau, trừu tượng biểu hiện trong những giới hạn hình thức nghèo nàn của màu sắc, sự giải thoát chủ thể khỏi bối cảnh, và sự tối giản của cấu trúc tới những hình học cơ bản
.
Trong âm nhạc, sự trừu tượng dựa vào sự xa rời khoá nhạc - tonality. Âm nhạc không theo điệu thức - Atonal music không có khoá âm, và mang một vẻ ngây ngô bề ngoài, nhưng đặc trưng bởi những mối quan hệ bên trong nội tại (hình như thiên về cảm xúc hơn?)
Trong âm nhạc, sự trừu tượng dựa vào sự xa rời khoá nhạc - tonality. Âm nhạc không theo điệu thức - Atonal music không có khoá âm, và mang một vẻ ngây ngô bề ngoài, nhưng đặc trưng bởi những mối quan hệ bên trong nội tại (hình như thiên về cảm xúc hơn?)
Trừu tượng với tâm lý học
Định nghĩa của Jung về trừu tượng được mở rộng ra ngoài phạm vi quá trình suy nghĩ bao gồm chính xác 4 đề mục tác động qua lại với nhau, những chức năng tâm lý bổ xung và phản khánh lẫn nhau: cảm giác, trực giác, xúc động và suy nghĩ. Cùng nhau chúng tạo thành một cấu trúc tổng hoà của các quá trình trừu tượng khác nhau. Trừu tượng có tác dụng ở một trong những chức năng phản kháng khi nó loại trừ những tác động xảy ra cùng một lúc - simultaneous influence về chức năng và những điều không tương hợp khác, ví dụ như sự xúc động. Trừu tượng yêu cầu sự tuyển chọn mục đích của thành phần cấu trúc riêng rẽ này thuộc về năng lực tình thần - abilities in the psyche . Trái ngược với sự trừu tượng là Cụ thể - concretism . Trừu tượng là một trong những định nghĩa của Jung trong chương 11 cuốn sách Các loại hình tâm lý học - Psychological Types.
Đây là một suy nghĩ trừu tượng, trừu tượng về cảm xúc, cảm giác và trực giác. Tư duy trừu tượng lựa chọn ra những đặc tính về duy lý hoặc logic ... Cảm xúc trừu tượng tương đồng với cảm quan về giá trị ... Tôi đặt cảm xúc trừu tượng vào cùng mức độ với những suy tư trừu tượng ... cảm giác trừu tượng thuộc mỹ học trái ngược với cảm quan bên ngoài và trực giác trừu tượng biểu trưng về một sự trái ngược với trực giác khác thường khác. (Jung, [1921] (1971):par. 678).
Chú thích
^ But an idea can be symbolized. "A symbol is any device whereby we are enabled to make an abstraction." -- p.xi and chapter 20 of Suzanne K. Langer (1953), Feeling and Form: a theory of art developed from Philosophy in a New Key: New York: Charles Scribner's Sons. 431 pages, index.
^ James W. Lewis "Cortical Networks Related to Human Use of Tools" 12 (3): 211-231 The Neuroscientist (June 1, 2006).
^ Encyclopaedia Britannica
^ Catherine de Zegher and Hendel Teicher (eds.), 3 X Abstraction. NY/New Haven: The Drawing Center/Yale University Press. 2005. ISBN 0-300-10826-5
^ National Gallery of Art: Abstraction.
^ Washington State University: Glossary of Abstraction.
^ Abstract Engravings Show Modern Behavior Emerged Earlier Than Previously Thought
^ Ancient Engravings Push Back Origin of Abstract Thought
^ But an idea can be symbolized. "A symbol is any device whereby we are enabled to make an abstraction." -- p.xi and chapter 20 of Suzanne K. Langer (1953), Feeling and Form: a theory of art developed from Philosophy in a New Key: New York: Charles Scribner's Sons. 431 pages, index.
^ James W. Lewis "Cortical Networks Related to Human Use of Tools" 12 (3): 211-231 The Neuroscientist (June 1, 2006).
^ Encyclopaedia Britannica
^ Catherine de Zegher and Hendel Teicher (eds.), 3 X Abstraction. NY/New Haven: The Drawing Center/Yale University Press. 2005. ISBN 0-300-10826-5
^ National Gallery of Art: Abstraction.
^ Washington State University: Glossary of Abstraction.
^ Abstract Engravings Show Modern Behavior Emerged Earlier Than Previously Thought
^ Ancient Engravings Push Back Origin of Abstract Thought
Tham khảo
Eugene Raskin, Architecturally Speaking, 2nd edition, a Delta book, Dell (1966), trade paperback, 129 pages
The American Heritage Dictionary of the English Language, 3rd edition, Houghton Mifflin (1992), hardcover, 2140 pages, ISBN 0-395-44895-6
Jung, C.G. [1921] (1971). Psychological Types, Collected Works, Volume 6, Princeton, NJ: Princeton University Press. ISBN 0-691-01813-8.
Eugene Raskin, Architecturally Speaking, 2nd edition, a Delta book, Dell (1966), trade paperback, 129 pages
The American Heritage Dictionary of the English Language, 3rd edition, Houghton Mifflin (1992), hardcover, 2140 pages, ISBN 0-395-44895-6
Jung, C.G. [1921] (1971). Psychological Types, Collected Works, Volume 6, Princeton, NJ: Princeton University Press. ISBN 0-691-01813-8.
Liên kết ngoài
Internet Encyclopedia of Philosophy: Gottlob Frege
Stanford Encyclopedia of Philosophy: Abstract Objects Discussion at The Well concerning Abstraction hierarchy
Nhãn: NGHỆ THUẬT TRỪU TƯỢNG


0 Nhận xét:
Đăng nhận xét
Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]
<< Trang chủ