THiết kế đô thị thủ tục và sản phẩm JON LANG, P1.2
Phần 1:
Trạng thái tự nhiên của thiết kế đô thị và ngành thiết kế đô thị
Trạng thái tự nhiên của thiết kế đô thị và ngành thiết kế đô thị
Lĩnh vực công cộng của các thành phố và thiết kế đô thị
Hầu hết những định nghiã về TKĐT đều có một điều gì đó liên quan tới lĩnh vực công cộng (hoặc phạm vị công cộng hoặc quảng trường) và một trong những lý lẽ thích hợp nhất định hình nên nó là:
TKĐT phác thảo ra rất nhiều hướng phát triển cùng một lúc cho một khu vực, phản ứng là với những thay đổi môi trường, công bằng xã hội, và tiềm năng kinh tế; ví dụ - trong vấn đề tạo ra một khu vực thống nhất và tươi đẹp. TKĐT xuất phát và vượt khỏi những tiền đề như quy hoạch và kinh tế chính trị, thiết kế kiến trúc, phát triển kinh tế, cảnh quan và xây dựng. Nó hoạch định ra và đặt những hướng phát triển đó lại với nhau. Tóm lại, TKĐT là việc tạo ra một viễn cảnh tương lai tốt đẹp hơn (Llewellyn-Davies, 2000: 12).
Câu cuối cùng này đặc biệt quan trọng. ở một sự trình bày khác: TKĐT nên đóng vai trò như là một mối liên kết giữa các công trình khác nhau và mối liên hệ giữa công trình và con đường, quảng trường, công viên và hệ thống sông ngòi và những không gian khác trong phạm trù công cộng... và các kiểu dạng di chuyển và vẫn động phát sinh, tóm lại một tổng hoà các mối quan hệ giữa những yếu tố của những không gian đã xây dựng và chưa xây dựng (DoE, 1997: paragraph 14). TKĐT gồm có những dự án tổ hợp công trình. Thi thoảng TKĐT còn bao hàm cả những thiết kế của những công trình riêng biệt, nhưng thường thì chỉ tác động vào mức độ quy mô sử dụng và mặt tiền, đặc biệt là tầng triệt, định rõ tính chất một lĩnh vực công cộng.
Lĩnh vực công cộng là gì?
Tổ chức loài người bao gồm những thành phần công cộng và riêng tư. Nét đặc bịêt của nó là không lúc nào cũng rõ ràng bởi vì ở đó cũng có những khu vực và những dạng ứng xử bán riêng tư và bán công cộng. Thêm nữa, điều gì được xem là riêng tư và điều gì được xem là công cộng? sự khác giữa nền văn hoá này với nền văn hoá kia và trong một nền văn hoá qua các giai đoạn khác nhau (Madanipour, 2003). Đối với những nghành nghề liên quan tới lĩnh vực thiết kế môi trường thì lĩnh vực công cộng bao gồm hai phần. Phần đầu tiên bàn về những thành phần công cộng của môi trường về mặt vật chất (tự nhiên và nhân tạo) mà những cách ứng xử từ đó nảy sinh, phần thứ hai chỉ rõ những quyết nghị chung được chính quyền đưa ra như thế nào. Phần đầu ảnh hưởng tới nhận thức về các yếu tố của TKĐT và phần hai là tiến trình của một TKĐT.
Trạng thái vật chất của lĩnh vực công cộng
Phải chăng trạng thái vật chất của lĩnh vực công cộng đơn giản bao gồm hết thảy những không gian mở bên ngoài khu vực riêng tư bên trong công trình, những sân trong riêng biệt và những khu vườn? nó là tất cả những gì có thể nhận thức được (nhìn, ngửi, nghe và va chạm) từ những khu vực mà mọi người đều có quyền tiếp cận? Phải chăng nó bao hàm hết thảy những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng của những không gian mở chung hoặc những không gian mà cộng đồng có thể tiếp cận một cách tự do? tất cả câu trả lời cho câu hỏi đó được giao phó cho khía cạnh chính trị.
Trong một ấn bản vào ngày 27 tháng 12 năm 2002 Le Monde, một tờ báo của Pháp, có một quan điểm cho rằng bất cứ thứ gì có thể nhìn thấy ở đúng chỗ của nó có thể là một thành phần của lĩnh vực công cộng - điều kiện của công việc nhiếp ảnh. Quan điểm được đưa ra ở đây là lĩnh vực công cộng bao gồm những khu vực mà mọi người có thể tiếp cận, mặt dù sự tiếp cận này có thể bị quản chế trong những thời điểm nhất định. Nó bao gồm cả những không gian bên trong và bên ngoài nhà. Không gian bên ngoài nhà bao gồm những con đường, quảng trường và công viên, trong khi bên trong nhà là những hành lang có mái vòm và những đại sảnh của nhà ga sân bay và những công trình công cộng, và những không gian khác mà cộng đồng có thể tiếp cận chung như bên trong nội thất của một phố mua bán lớn.
Vấn đền là trạng thái tự nhiên của rất nhiều khu vực công cộng là sự mô hồ nhập nhằng mặc dù sự công cộng có nghĩa là tự do tiếp cận nhưng chúng vẫn phải đặt dưới quyền điều hành của một chủ quản nào đó. Như những lĩnh vực chung của một thành phố ngày càng bị tư hữu hoá, sự mập mờ này còn có khả năng tiếp diễn. Nếu lịch sử là một bài học nào đó, quan điểm về điều gì là riêng tư và điều gì là công cộng sẽ xảy ra một kiểu mẫu nhân quả trong tương lai. Phạm vi của những gì liên quan đến lĩnh vực công cộng sẽ có lúc thịnh lúc suy. Sự nhận thức phải được kiểm soát hoặc không kiểm soát dưới danh nghĩa lợi ích công công và những gì được thiết kế sẽ nảy sinh dưới những quan điểm chính trị khác nhau.
Những yếu tố vật chất của lĩnh vực công cộng
Bất cứ một sự phát biểu về những nhân tố gì cấu thành nên lĩnh vực công cộng về cấu trúc xây dựng có vẻ như được rút ra qua thời gian. Nó phụ thuộc vào một lập trường chính trị và phương thức xác đinh lập trường đó. Vào những năm 1930, Le Corbusier đã viết rằng những yếu tố cơ bản của TKĐT là: ‘mặt trời, bầu trời, cây xanh, sắt thép, xi măng trong một trật tự trọng đại của nó’ (Le Corbusier, 1934). Dĩ nhiên, bầu trời và mặt trời là quan trọng ở bất cứ nơi đâu và đã trở thành sản phẩm trao đổi – commodities với những tương quan với công việc TKĐT. Tuy nhiên, danh sách của Le Cor không hữu dụng trong những suy nghĩ về trạng thái tự nhiên của lĩnh vực công cộng.

Một cách thức hiệu quả nhìn nhận về lĩnh vực công cộng là xem nó như là một tập hợp những ứng xử được xắp đặt - một giới hạn được đặt ra bởi tâm lý sinh thái học - ecological psychologists vào những năm 1960 (see Lang, 1987). Một hệ thống ứng xử bao gồm kiểu mẫu ứng xử đang tôn tại, một hoàn cảnh (một dạng cấu trúc xây dựng) và một giai đoạn thời gian nào đó. Một hoàn cảnh nhất thiết phải có một affordances để sự ứng xử có thể xảy ra, nhưng bởi một affordances không có nghĩa rằng những hành xử đặc biệt sẽ xảy ra ở đó. Những gì thực sự sẽ xuất hiện phụ thuộc vào những khuynh hướng, động cơ thúc đẩy, kiến thức và sự tranh đua của những người có liên quan. Vì vậy những kiểu mẫu xây dựng tương tự giống nhau có lẽ sẽ có những kiểu mẫu khác nhau về hành xử cho những người khác nhau ở những thời điểm khác nhau trong ngày, trong tháng hoặc trong năm.
Vài kiểu mẫu có lẽ thường xảy ra căn cứ vào cơ sở hằng ngày hoặc thậm chí liên tục một ngày hoặc một năm, trong khi những kiểu mẫu khác có lẽ chỉ xảy ra trong những thời điểm đặc biệt (kỷ niệm ngày quốc khánh). Bao gồm tình trạng của tầng hầm, bề mặt công trình và những yếu tố vật chất khác, và những đối tượng giới hạn và cấu trúc lại nó từ bên trong. Sự biết đổi là sự đa dạng và sự đóng góp của chúng thậm chí còn hơn như vậy. Về tầm quan trọng đặc biệt của TKĐT là những mối quan tâm như những trải nghiệm liên tục về môi trường như những hoạt động của tầng trệt, một người chuyển động đi qua, hoặc một nhóm người ở trong một hoàn cảnh, và sự tượng trưng cho những yếu tố ngoại vị của không gian. Trong khung cảnh đô thị trong hình 1.1 và 1.2, diện mạo lĩnh vực công cộng bao gồm những yếu tố môi trường nhân tạo xung quanh con người.
Trước đây nó bao gồm quảng trường, hàng cây, mặt tiên công trình, công năng tầng triệt, và đường vào những không gian mở. Một kiểu đường phố phổ biến hơn trong hình 1.2 những yếu tố cơ bản tương tự nhau nhưng có một cấu trúc khác nhau. Tuy nhiên TKĐT liên quan tới tổng hoà những trải nghiệm của con người đối với tự nhiên nó phải đưa những hoạt động tự nhiên và những con người tham gia vào nó một cách tốt đẹp. Một tập hợp các dạng ứng xử và làm sao môi trường có thể tạo điều điện cho những hoạt động và nhiều hoạt động xảy ra cùng một lúc như một sự trình diễn nghệ thuật đó mới là điều quan trọng.
Vài kiểu mẫu có lẽ thường xảy ra căn cứ vào cơ sở hằng ngày hoặc thậm chí liên tục một ngày hoặc một năm, trong khi những kiểu mẫu khác có lẽ chỉ xảy ra trong những thời điểm đặc biệt (kỷ niệm ngày quốc khánh). Bao gồm tình trạng của tầng hầm, bề mặt công trình và những yếu tố vật chất khác, và những đối tượng giới hạn và cấu trúc lại nó từ bên trong. Sự biết đổi là sự đa dạng và sự đóng góp của chúng thậm chí còn hơn như vậy. Về tầm quan trọng đặc biệt của TKĐT là những mối quan tâm như những trải nghiệm liên tục về môi trường như những hoạt động của tầng trệt, một người chuyển động đi qua, hoặc một nhóm người ở trong một hoàn cảnh, và sự tượng trưng cho những yếu tố ngoại vị của không gian. Trong khung cảnh đô thị trong hình 1.1 và 1.2, diện mạo lĩnh vực công cộng bao gồm những yếu tố môi trường nhân tạo xung quanh con người.
Trước đây nó bao gồm quảng trường, hàng cây, mặt tiên công trình, công năng tầng triệt, và đường vào những không gian mở. Một kiểu đường phố phổ biến hơn trong hình 1.2 những yếu tố cơ bản tương tự nhau nhưng có một cấu trúc khác nhau. Tuy nhiên TKĐT liên quan tới tổng hoà những trải nghiệm của con người đối với tự nhiên nó phải đưa những hoạt động tự nhiên và những con người tham gia vào nó một cách tốt đẹp. Một tập hợp các dạng ứng xử và làm sao môi trường có thể tạo điều điện cho những hoạt động và nhiều hoạt động xảy ra cùng một lúc như một sự trình diễn nghệ thuật đó mới là điều quan trọng.

Vào năm 1748 Giambattista Noli phác thảo ra một hỉnh ảnh – quy hoạch cho Rome (xem ảnh 1.3). Nó trình bày những quảng trường công cộng của thành phố trên mặt bằng trong xuốt thời gian của Pope Benedict XIV. Hầu hết các không gian bên trong (phần lớn là các nhà thờ) và sân trong đèu mang tính chất công cộng. Nó cũng minh hoạ cho tầm quan trọng của những không gian mở tồn tại trong thành phố thời gian đó. hầu hết các không gian đó có thể thấy rõ từ đường phố. Cũng như tầm quan trọng của những hình ảnh về mối quan hệ trên mặt đất một cách tự nhiên của các mặt tiền xung quanh một không gian mở.
Điều gì họ có thể tạo ra và làm sao họ mở được cửa sổ? công dụng nào của mặt tiền đó đối với không gian mở? Mức độ thường xuyên qua lại dọc theo những con đường và những quảng trường đó ra sao? những không gian được chiếu sáng bằng cách nào? Trông chúng ra sao vào buổi tối? những dạng động thái nào diễn ra trong không gian đó? Ai là người sử dụng chúng? Có một sự đa dạng phân biệt giữa nơi này và nơi khác - từ thành phố này với thành phố khác, và một khu vực hoặc một đơn vị trong thành phố này với thành phố khác. Phối cảnh chim bay của quận Banking – Mumbai và việc để trống tầng trệt nói lên nhiều điều về trạng thái tự nhiên của lĩnh vực công cộng (xem ảnh 1.4) Chúng nói nên cuộc sống của một khu vực, mặc cho khả năng đầu tư của nó là như thế nào. Công năng được tạo ra với kiểu mẫu đó khác rất xa so với những gì ở Double Bay – Sydney (ảnh 1.5)
Điều gì họ có thể tạo ra và làm sao họ mở được cửa sổ? công dụng nào của mặt tiền đó đối với không gian mở? Mức độ thường xuyên qua lại dọc theo những con đường và những quảng trường đó ra sao? những không gian được chiếu sáng bằng cách nào? Trông chúng ra sao vào buổi tối? những dạng động thái nào diễn ra trong không gian đó? Ai là người sử dụng chúng? Có một sự đa dạng phân biệt giữa nơi này và nơi khác - từ thành phố này với thành phố khác, và một khu vực hoặc một đơn vị trong thành phố này với thành phố khác. Phối cảnh chim bay của quận Banking – Mumbai và việc để trống tầng trệt nói lên nhiều điều về trạng thái tự nhiên của lĩnh vực công cộng (xem ảnh 1.4) Chúng nói nên cuộc sống của một khu vực, mặc cho khả năng đầu tư của nó là như thế nào. Công năng được tạo ra với kiểu mẫu đó khác rất xa so với những gì ở Double Bay – Sydney (ảnh 1.5)

Diện mạo của lĩnh vực công công và công năng của nó
Về khái niệm, công năng được tạo ra bằng việc xây dựng môi trường không hề thay đổi qua nhiều thiên niên kỷ. Điều gì đã thay đổi, người sử dụng của nó là ai, những nhà lập pháp và những nhà thiết kế là rất quan trọng. Những nhà thiết kế hiếm khi tính đến giới hạn về những khả năng tiềm tàng một cách có ý thức mà việc xây dựng môi trưòng có thể đáp ứng bằng sự phân tích và thiết kế. Thế giới hết sức phức tạp những công năng của một cấu trúc xây dựng được xem xét một cách đồng thời, dĩ nhiên, những công năng khác nhau để đáp ứng cho những con người khác nhau. Một trong những công năng chính của những thành phần xây dựng nên môi trường là việc đầu tư tài chính. Mọi nhà thiết kế đều hiểu điều này nhưng hiếm khi nó được định ra một cách rõ ràng như một chức năng của công trình trong lý thuyết kiến trúc. Những nhà phê bình kiến trúc cũng hiếm khi viết về nó.
Rất nhiều quyết sách phát triển đô thị được đưa ra dựa vào nền tảng ngân sách. Đối với những ngân hàng và những tổ chức cho vay, và với những chủ sở hữu của nó, những công trình biểu trưng cho một sự đầu tư mà họ hy vọng nó sẽ đem lại lợi nhuận. Lĩnh vực công cộng, trong trường hợp này, điều quan trong duy nhất là đánh giá tác động của những quyết định đầu tư. đặc tính của những nhà đầu tư, có lẽ tự nguyên hoặc bắt buộc sử dụng nguồn tài chính của họ để cải thiện những diện mạo của lĩnh vực mà những dự án của họ tác động hoặc tác động lên những dự án của họ. Những cơ quan công quyền có lẽ phải sử dụng nguồn thu thuế để cải thiện lĩnh vực công cộng được tạo ra bởi các công trình để gia tằng những giá trị đất đai và gia tăng dòng thuế. Dòng thuế đó được sử dụng để củng cố những hoạt động chính sách khác. Đối với các kiến trúc sư, kiến trúc sư cảnh quan và các điêu khắc gia nghề nghiệp của họ không chỉ là phương tiện để thu nhập mà còn là một sự đầu tư trải nghiệm và sử dụng những kỹ năng, họ hy vọng rằng, sẽ thu được những lợi ích trong tương lai. Tóm lại, có ba thứ tiện nghi cơ bản mà môi trường có thể đem lại. Nó có thể tạo điều kiện cho các hoạt động, làm một nơi nương tựa, và đóng vai trò như một sự biểu hiện về điều kiện giao tiếp công cộng.
Về khái niệm, công năng được tạo ra bằng việc xây dựng môi trường không hề thay đổi qua nhiều thiên niên kỷ. Điều gì đã thay đổi, người sử dụng của nó là ai, những nhà lập pháp và những nhà thiết kế là rất quan trọng. Những nhà thiết kế hiếm khi tính đến giới hạn về những khả năng tiềm tàng một cách có ý thức mà việc xây dựng môi trưòng có thể đáp ứng bằng sự phân tích và thiết kế. Thế giới hết sức phức tạp những công năng của một cấu trúc xây dựng được xem xét một cách đồng thời, dĩ nhiên, những công năng khác nhau để đáp ứng cho những con người khác nhau. Một trong những công năng chính của những thành phần xây dựng nên môi trường là việc đầu tư tài chính. Mọi nhà thiết kế đều hiểu điều này nhưng hiếm khi nó được định ra một cách rõ ràng như một chức năng của công trình trong lý thuyết kiến trúc. Những nhà phê bình kiến trúc cũng hiếm khi viết về nó.
Rất nhiều quyết sách phát triển đô thị được đưa ra dựa vào nền tảng ngân sách. Đối với những ngân hàng và những tổ chức cho vay, và với những chủ sở hữu của nó, những công trình biểu trưng cho một sự đầu tư mà họ hy vọng nó sẽ đem lại lợi nhuận. Lĩnh vực công cộng, trong trường hợp này, điều quan trong duy nhất là đánh giá tác động của những quyết định đầu tư. đặc tính của những nhà đầu tư, có lẽ tự nguyên hoặc bắt buộc sử dụng nguồn tài chính của họ để cải thiện những diện mạo của lĩnh vực mà những dự án của họ tác động hoặc tác động lên những dự án của họ. Những cơ quan công quyền có lẽ phải sử dụng nguồn thu thuế để cải thiện lĩnh vực công cộng được tạo ra bởi các công trình để gia tằng những giá trị đất đai và gia tăng dòng thuế. Dòng thuế đó được sử dụng để củng cố những hoạt động chính sách khác. Đối với các kiến trúc sư, kiến trúc sư cảnh quan và các điêu khắc gia nghề nghiệp của họ không chỉ là phương tiện để thu nhập mà còn là một sự đầu tư trải nghiệm và sử dụng những kỹ năng, họ hy vọng rằng, sẽ thu được những lợi ích trong tương lai. Tóm lại, có ba thứ tiện nghi cơ bản mà môi trường có thể đem lại. Nó có thể tạo điều kiện cho các hoạt động, làm một nơi nương tựa, và đóng vai trò như một sự biểu hiện về điều kiện giao tiếp công cộng.


Các mối quan tâm của thiết kế có thể xắp xếp ‘(1) Phương thức định hướng xuyên suốt nhất, (2) những động thái được tiến hành như thế nào, (3) chúng tương thích với hệ thống như thế nào, (4) ý nghĩa của chúng, tác động tiềm tàng nhất của chúng’ (Rapoport,1997). Những chức năng đó có thể nắm bắt một cách nhanh nhất trong một kiểu mẫu về nhu cầu của con người. Không có gì mới mẻ trong lời phát biểu này. Nó là trọng tâm trong những suy nghĩ của những nhà hiện đại chủ nghĩa. Kiểu mẫu của chúng ta, tuy nhiên, phong phú hơn rất nhiều kiểu mẫu của họ.Mục đích của con người và chức năng của lĩnh vực công cộng
Có một số mô hình về nhu cầu cơ bản của con người. Không có gì là đầy đủ nhất nhưng luận điểm của Abraham Maslow là đạt được sự nể trọng nhiều nhất bởi vì dường như nó giải thích được nhiều nhất (Maslow,1987). Maslow đề xuất rằng có một hệ thống cấp bậc về các nhu cầu cơ bản của con người từ nhu cầu cơ bản nhất đó là sự sống đến trừu tượng nhất đó là nghệ thuật. Cần thiết phải được khởi động cư xử theo cách này hay cách khác và truyền cảm hứng (những cuộc đối thoại) để sở hữu những đối tượng giá trị và xắp đặt nó trong tương lai trình diễn những đặc tính đặc sắc. Những sự chuyển động đó có lẽ là kết quả của những sự dồn nén trong nội tại nhưng chúng thường được định dạng bởi văn hoá và thường xuyên xác định một thứ văn hoá. Quan sát này là một lý do cho thất rằng những kiểu mẫu thiết kế đô thị được phát triển trong một nền văn hoá không thể chuyển dịch sang một nền văn hoá khác mà thành công được.
Mô hình quan hệ của hệ thống những nhu cầu cơ bản của con người của Maslow với công năng của những cấu trúc xây dựng được trình bài trong ảnh 16. Mô hình đặc biệt cả về nhu cầu lẫn kỹ thuật để thi hành chúng cần phải được nhìn nhận trong một trật tự xã hội. Trong TKĐT, thái cực tột bực của trật tự xã hội được biểu hiện bởi những xã hội chuyên quyền độc đoán và những xã hội dân chủ. Trước đây, những quyết định tập trung vào một cá nhân hay một nhóm người; sau này thì đa dạng hơn và cuối cùng thì lệ thuộc vào quyền lựa chọn của dân chúng.
Biểu đồ chỉ ra những kỹ thuật (hoặc những mô hình cấu trúc xây dựng) để đạt được rất nhiều những nhu cầu cơ bản tương quan với nhau. Nhu cầu cơ bản nhất, theo Maslow, là nhu cầu về các chức năng sinh lý học. Nhu cầu chủ yếu là sự tồn tại, điều đó có nghĩa rằng môi trường phải là nơi tạo ra cho con người một nơi nương tựa. Cũng như bảo về khỏi các hiểm hoạ trong cuộc sống. Một số hiểm hoạ đó, như là động đất, thiên tai, những hiểm hoạ do con người gây ra. Nhận thức về những biến cố tiềm tàng về những sự kiện như vậy định hình lên tất cả những gì mà đòi hỏi chúng ta phải xây dựng cho một môi trường sống tốt đẹp.
Một nhu cầu cơ bản về sinh lý học ít nhất phải phù hợp một cách cục bộ, con người chuyển động để kiếm tìm những cảm giác về sự an toàn và sự bảo vệ. Về vấn đề sinh lý học, nhu cầu an toàn và được bảo vệ có liên hệ cao với nhu cầu tồn tại. Làm cách nào có thể cách ly người đi bộ và những người đi xe là một vấn đề hiện nay của TKĐT. Giải quyết vấn đề tội phạm và khủng bố là một sự cấp bách rằng chúng ta phải làm gì để tôn vinh những thành phố của mình. Trình bày những cảm quan sinh lý học của con người về vấn đề an ninh xung quanh họ với một mức độ riêng tư thích đáng và sự tồn tại của họ trong sự điều hành môi trường xã hội. Mọi người mong chờ một sự riêng tu trong tất các các hoạt động mà họ tham gia vào như những cá thể hoặc nhóm. Nhiều sự mong đợi rất tinh tế và phụ thuộc vào tính cách của những con người liên quan.


Biểu đồ cũng chỉ ra rằng cơ cấu vật lý xã hội học được sử dụng bởi những con người để đạt được một cảm giác về giá trị của mình có liên quan một cách mật thiết đến việc đạt được sự an toàn và an ninh. Xây dựng môi trường phụ thuộc vào tình trạng xã hội của cong người. Nó đóng vai trò như một biểu tượng rằng chúng ta là ai?. Một trong những tranh luận về TKĐT hiện nay là dù cho có tạo được những hình ảnh liên quan tới những nơi đặc biệt hoặc tạo ra những hình ảnh mang tính quốc tế được ủng hộ bởi những tổ chức kinh tế toàn cầu. (So sánh ví dụ với thiết kế của Battery Park City, Canary Wharf, Lujiazui và quảng trường Paternoster được miêu tả trong chương 8). Đối với rất nhiều người xắp đặt một việc xây dựng môi trường sống phù hợp với đức tin đáp ứng lại những nhu cầu đó. Điều này rất quan trọng để nhận ra rằng việc xây dựng môi trường, công cộng và riêng tư, là một biểu tượng về chúng ta là ai/và chúng ta đang khao khát điều gì.
Mức độ cao nhất trong biểu đồ về các nhu cầu cơ bản của con người của Maslow là như vậy, một sự tự thân vận động - trở thành điều mà chúng ta có thể trở thành. Nhưng hàm ý thiết kế cho mức độ nhu cầu này là không rõ ràng. Những nhu cầu dựa trên kinh nghiệm và thẩm mỹ, tuy nhiên, có những hàm ý có thể hiểu được hơn. Chúng biểu lộ trong suốt chiều dài cuộc sống của chúng ta. Chúng ta cần phải học cách để sống cũng như tạo ra những sự tiến bộ trong cuộc sống cho nên việc học tập là một tặng phẩm để đạt được tất cả các nhu cầu cơ bản của chúng ta. Nhu cầu thẩm mỹ không chỉ bắt buộc phải thực hiện với những ý nghĩa mang tính biểu tượng của môi trường như chúng liên quan tới tình trạng và khát vọng mà còn, đối với một vài người khác, hiểu biết về chuỗi lý luận lo-gic của nhà thiết kế. Ví dụ, để hiểu về triết lý tái tạo của tự nhiên và thấy được chúng áp dụng vào việc sáng tạo những cấu trúc kiến trúc và cảnh quan (như thiết kế của Parc de la Villette; xem chương 5) có ý nghĩa sâu sắc với một số người quan sát. Đối với hầu hết những người khác, tuy nhiên, những gì họ nhận thức được và không mang tính lo-gic đằng sau những sáng tạo đó mới là điều quan trọng.
Không chỉ con người chúng ta có những nhu cầu mà trong thế giới sinh học những sinh vật đặc biệt khác cũng vậy. Thực vật và động vật đóng góp rất nhiều mục đích trong việc xác định một thế giới lành mạnh trừ những thiết bị kỹ thuật máy móc. Kyoto Izumi, một kiến trúc sư Canada, phác thảo ra một biểu đồ phân biệt giữa những sự xắp đặt nơi những vận động gặp gỡ của con người là cao nhất và những nhu câu cơ bản của những bộ máy là quan trọng nhất (anthropozemic environments) (xem ảnh 1.7; Izumi, 1968). Những bộ máy nó phải được đề cập đến, phục vụ cuộc sống con người. Sách này có liên quan cơ bản đến anthropophilic environments trong các điều khoản của Izumi. Tank Farms đương nhiên sẽ được xem như một dạng sản phẩm TKĐT nhưng thiết kế của nó thực ra nằm trong lĩnh vực của kỹ thuật và khoa nghiên cứu lao động.
Cấp số nhân và những tác dụng phụ:
Chức năng xúc tác của các phán quyết về TKĐT
Những tác động cấp số nhân thường được quy cho những ảnh hưởng tích cực của những quyết định đầu tư đặc biệt và những kiểu mẫu xây dựng môi trường xunh quanh; những tác dụng phụ thường được xem xét tới quyền phủ định. Mối liên quan của TKĐT với những tác động xúc tác có cả trong những dự án tương lai. Chúng sẽ khởi động những chính sách đầu tư hay không? Chúng sẽ thiết lập nên một quan điểm thẩm mỹ mới? Rất nhiều nghiên cứu trình bày trong cuốn sách này chỉ ra làm sao mà những công trình đặc biệt (ví như bảo tàng Bilbao) và những tổ hợp công trình (như Pioneer Place) thành công theo chiều hướng này (xem chương 6)
Vai trò quan trọng nhất của rất nhiều thiết kế đô thị là nâng cao chất lượng của môi trường đô thị bằng cách thay đổi các mô hình đầu tư. Đáng tiếc thay một số mô hình TKĐT đã không tương thích và phủ nhận những tác động bất ngờ không lường trước. The ‘de-malling’ của rất nhiều đường phố đã chuyển hoá thành những con đường cho người đi bộ là một ví dụ (như công viên Oak, Illinois; xem chương 5). Ngày nay những lợi ích công cộng lớn nhất là một tác động về xây dựng môi trường trong một môi trường tự nhiên sẵn có, nó sẽ được phản ánh trong TKĐT trên bất cứ quy mô nào. Mặc dù đã có mội vài cuộc khảo sát sơ bộ, để có những mô hình dành cho những nhà thiết kế noi theo.
Những công trình và những bề mặt vật chất khác, các mô hình về hướng gió và luồng gió xuyên qua môi trường, hành trình của mạnh nước ngầm đã hình thành và nhiệt độ phản hồi và hấp thu. Đặc biệc chúng tạo ra những ốc đảo thay đổi các mô hình khí hậu địa phương. Chúng ta không chỉ bắt đầu nhận ra những vấn đề của TKĐT và trong hầu hết những khu vực chính quyền sẽ phải giải quyết thông qua những biểu hiện của chúng. Thêm nữa, các nghành khoa hoc của chúng ta vẫn còn nghèo nàn trong rất nhiều chiều hướng. Ví dụ, kiến thức của chúng ta về vấn đề hướng gió chuyển động ra sao trong thành phố, tẩy rữa những chất ô nhiễm từ khi chúng còn trong trứng nước. Chúng ta có phong phú hơn nhiều về các vấn đề trong việc giải quyết tiêu thụ năng lượng.
Chiều sâu văn hoá
‘tất cả mọi người đề có những nhu cầu căn bản như nhau’ Le Cor đã quan sát thấy như vậy. Cho rằng những mô hình cho thiết kế xây dựng môi trường có thể được giảm thiểu tới một số mô hình khái quát đã chứng minh là những sai lầm tai hại. Thứ tự của những nhu cầu cơ bản, như Maslow đã nhận thấy, có lẽ là phổ biến nhưng phương thức mà chúng ta đấu tranh để tiếp cận chúng phơi bầy một sự biến đổi đáng kể. Những mô hình hoạt động, từ những gì thuộc về cuộc sống hành ngày tới những nghi thức khó hiểu nhất, phụ thuộc vào tình trạng của chúng ta trong vòng xoay của cuộc sống, giống nòi của chúng ta, và những nguyên tắc xã hội của chúng ta, bên trong một bối cảnh xã hội đặc biệt. Điều gì mà chúng ta quen làm và môi trường mà chúng ta quen sống, định hình nên ở mức đô cao những gì chúng ta tìm kiếm trong tương lai. Chúng ta đã quên với những gì mà chúng ta đã biết. Chuyển hướng khỏi tiêu chuẩn, sự chuyển hướng, có thể gây ra căng thẳng cao độ. Những lịch sử như vậy lặp lại rất nhiều những ví dụ về những sự cố gắng, đôi khi thành công, đôi khi thất bại, không thay đổi bề mặt xã hội thông qua những nền tảng của ngành kiến trúc và những biến đổi của đô thị.
Không chỉ những mô hình hoạt động khác nhau từ các nền văn hoá mà cả những ý tưởng về sự riêng tư và quan điểm về sự phô bày công cộng về địa vị và sự giầu có. Trong một vài xã hội có một sự chuyển dịch đáng kể về tỉ lệ tội phạm cao và những xã hội khác thì kém hơn. Những kiểu mẫu về môi trường, chất liệu gì mà chúng đã sử dụng, màu sắc và lề thói cũ và việc chúng được làm sáng tỏ chứa đựng ý nghĩa về việc học hỏi giao thiệp. Trong một vài xã hội, giải mã tình trạng của nó thông qua thiết kếocs thể quan sát một các dễ dàng nhưng những xã hội khác thì lại rất tinh tế. Có lẽ nền tảng văn hoá quan trọng nhất có thể thay đổi của TKDT là quan điểm về chủ nhĩa cá nhân và sự tương tác.
Những khu vực đô thị làm cho ta ngưỡng mộ như Piazza San Marco ở Venice được xây dựng một các piece-by-piece qua nhiều thế kỷ với những nhà phát triển mới và những kiến trúc sư có đủ tỉnh táo biết rõ cách làm cho khớp với những gì đã được xây dựng sẵn. Họ có, điều mà nhà lịch sử kiến trúc Peter Kohane gọi là “ý thức về sự lịch thiệp” Những thái độ như vậy là một điểm khác biệt trong những xã hội theo đạo hồi truyền thống nơi mà một loạt những điều luật bất thành văn rút ra từ ảnh hưởng của kinh Koran, thiết kế về những thành phần riêng biệt của môi trường, đảm bảo một sự hợp nhất trong tổng thể. Những quan điểm như vậy tồn tại dai dẳng nhưng chúng không có ý nghĩa quan trọng đáng kể trong những xã hội trong những trường hợp nghiện cứu bao hàm trong cuốn sách này. Lý do TKĐT nổi nên như một lĩnh vực chuyên nghiệp là nỗ lực tìm kiến những quy trình thủ tục nhằm nâng cao chất lượng của những khu vực đặc biệt trong thành phố.
Những dòng văn hoá, chúng không nằm ở trạng thái tĩnh. Trong kỷ nguyên của toàn cầu hoá, không chỉ kinh tế mà còn cả thông tin, những mô hình về lĩnh vực công cộng khác nhau được lĩnh hội bởi những nhà chức trách như những biểu tượng của khát vọng. Khát vọng về những hình ảnh phổ thông trong lĩnh vực công cộng của những thành phố thường có ý nghĩa rằng những nhu cầu của tất cả các kiểu mẫu hoạt động địa phương là quan trong hơn trong sự tìm kiếm những mô hình mang tính biểu tượng quốc tế làm nâng cao hình ảnh của con người.
Sự ra quyết định trong lĩnh vực công cộng
Bổn phận của những thành viên trong một xã hội là cùng nhau thiết lập những nguyên tắc riêng biệt cho chính phủ và cho những cá nhân trong việc quản lỹ cuộc sống của họ. Tranh luận ở đây là điều gì là riêng biệt và điều gì là công cộng, và quyền của những cá nhân đối lập với quyền lợi của cộng đồng là trọng tâm của TKĐT. Tranh luận về quyền lợi của những chủ sở hữu bất động sản cá nhân xây dựng nên điều mong muốn của họ đối lập với quyền lợi của những người láng giềng của họ và xã hội rộng lớn hạn chế áp đặt những quyền lợi đó dưới tên gọi của quyền lợi công cộng.
Phạm vi quan tâm về việc ra quyết định trong lĩnh vực công cộng
Những nhận thức về điều gì là những mối quan tâm trong lĩnh vực công cộng và điều gì là riêng tu khác nhau qua thời gian. Thế kỷ 20 nhìn thấy dòng chảy và sự yếu kém về tình trạng phúc lợi công cộng. Cuối những năm 1980 lại thấy sự bắt đầu của cuộc cách mạng tư bản chủ nghĩa thứ 2 và một tầm quan trọng to lớn đặt vào những cá nhân và quyền lợi cá nhân bắt đầu trong thế kỷ 20. Niềm tin về quyền tự do hành động của con người có ích cho tất cả mọi người. Trong nhất nhiều phương thức sự chuyển biến của ý thức hệ này thành hành động đã rất thành công đặc biệt trong thị trường toàn cầu về mặt tài chính. Quá trình thay đổi là những trải nghiệm khó khăn đối với rất nhiều người và sự tiếp cận chính sách tự do kinh doanh đối với pháp triển đô thị có rất nhiều cơ hội cần phải được công tác.
‘Phạm vi mà những nhà ra quyết định về lĩnh vực công cộng có thể can thiệp vào qúa trình phát triển bất động sản là gì?’ ‘Nên chăng chúng chỉ nên được điều hành chỉ để đạt được một môi trường công cộng lành mạnh và an toàn?’ hoặc ‘Có nền thúc đẩy những tiện nghi trong lĩnh vực công cộng’. Nói khác đi, nên chăng phạm vị công cộng có liên quan đến việc sử dụng Cái-gậy hay Củ-cà-rốt hoặc cả hai trong việc tạo hình nên một nơi định cư tự nhiên của con người, và các thành phần của nó? “Lĩnh vực công cộng có thể chống đỡ tới mức độ nào, thông qua pháp chế và sự trợ cấp, những hoạt động đầu tư lợi nhuận cá nhân đã được nhận biết đếu đâu trong mối quan hệ với quyền lợi cộng đồng?” Ở Mĩ, những vụ kiện gần đây đã giới hạn quyền lực của chính phủ về việc sử dụng quyền của chính phủ thu hồi tài sản riêng vào việc công sau khi đã đền bù thoả đáng - power of eminent domain giành lại đất để bán cho những mục đích sử dụng cá nhân cho dù thái độ của cộng đồng về bất cứ dự án nào sau này sẽ cho kết quả lợi nhuận cao.
Trong những trường hợp nghiên cứu trong cuốn sách này trình bày một sự rộng lớn các nguyên tắc khác nhau của chính phủ trong việc phát triển bất động sản. Trong một số trường hợp nó một phần của chính sách quốc gia về phân bổ dân cư. Những chính sách đo đựơc thực thi thông qua việc thu hồi đất, tạo ra các dự án phát triển, thuê một nhà thiết kế hặc một nhóm thiết kế, và sự thực thành về một thiết kế cho tổng thể thành phố. Trong những trường hợp khác toàn bộ quá trình phát triển lấy từ ngân quỹ quốc gia và chủ đề chỉ là tập trung vào điều chỉnh ở mức độ phân vùng. Rất nhiều những dự án đô thị khác đã liên quan đến lĩnh vực công cộng và riêng tư của hoạt động thương mại trong một công ty đặt ra yêu cầu cho một kế hoạch, tổ chức qua trình về sự phát triển và lợi nhuận của nó, và sau đó là thực thi (Frieden and Sagalyn, 1991; Garvin, 1995).
Phạm vi các mối quan tâm Công cộng đối với các thành phố chúng tôn tại và đổi thay theo thời gian (như đã trình bày về quyền lực của chính quyền đưa ra những quyết định có lợi cho cộng đồng). Gần đây, được nhìn nhận như những nguyên tắc của chính quyền có liên quan tới tình trạng sức khoẻ của trái đất. Chắc hẳn những mối quan tâm này làm gia tăng những câu hỏi về hình dạng của những thành phố, những chính sách giảm thiểu ô nhiễm và ảnh hưởng của sự gia tăng nhiện độ trên một quy mô rộng lớn và giá trị của những cơn gío thổi qua thành phố. Giải quyết những vấn đề như vậy đòi hỏi những hành động của cộng đồng. Những câu hỏi khái quát về sức sống của những thành phố. Sự tiến bộ của những chính phủ trong thế kỷ 20 đã can thiệp nhiều hơn nữa vào cách thức phát triển của những thành phố. Các nhà chức trách của một thành phố đã hoạch định trước chính sách sử dụng đất, nơi nào và cơ sỏ hạ tầng cần thiết cho việc phát triển sẽ như thế nào, và phải chắc rằng những gì được xây dựng là sự an toàn và lạnh mạnh.
Chúng cũng can thiệp vào việc xác định một mức độ thẩm mĩ tự nhiên cho môi trường, từ chất lượng xuanh quanh những con đường và những quảng trường công cộng cho tới sự hiện diện của những công trình. Trong việc sử dụng quyền lực để làm như vậy, họ phải, ít nhất là ở Mĩ, minh hoạ mục đích của sự thiết lập đó trong sự quan tâm của công đồng và hệ thống kỹ thuật sử dụng để đạt được những mục đích đố là đúng với hiến pháp và dựa trên bằng chứng công việc của họ (see Daubert versus Merrell Dow, No. 92-102, 1993; and Dolan versus the City of Taggert, 1994; Stamps, 1994). Trong một sự kiên gần đây (the United States Supreme Court decision in the case of City of Los Angeles versus Alameda Book, 2002) nó đã phát biểu rằng một thành phố tự trị ‘không thể tránh khỏi những lý lẽ và những dữ kiện giả tạo.’ Những phán quyết hợp pháp như vậy không thể áp dụng một cách rộng rãi nhưng những ngụ ý đề xuất là những nhà thiết kế nên tìm kiếm những bằng chứng trước khi yêu sách về những hiệu quả của những quyết định đó đem lại. Những hiệu quả mà những Hậu quả của việc TKĐT một cách hấp tấp là một trong cội nguồn của những nguyên nhân cần minh chứng.
Những nguyên tắc bán công cộng của những nhà phát triển bất động sản
Những doanh nghiệp tạo ra những sự án bất động sản trên quy mô lớn thường đóng vai trò như những nguyên tắc bán công cộng (có vẻ như là công cộng) quasi-public trong sự phát triển của những thành phố. Những sự quan sát thực sự đặc biệt vào năm những 1980 và thậm chí còn hơn vào những năm 1990. Cơ quan công quyền giờ đây dựa vào những sự đầu tư cá nhân vào việc phát triển lĩnh vực công cộng. Đồng thời có một sự đòi hỏi về sự điều chỉnh về điều gì mà những nhà thầu cá nhân tìm kiếm đạt được mà cách thức họ tìm kiếm đạt được như thế nào.
Những yếu tố cá nhân mà được xem như những cơ hội đầu tư tài chính trong những công trình mới hoặc những tổ hợp công trình. Chúng, giống như những ngân hàng bảo trợ cho công việc của họ, muốn rằng những gì họ làm phải đem lại thành công về mặt tài chính. Để thành công về mặt tài chính phải có một vài yêu cầu chung cho những sản phẩm mà họ sẽ tạo ra. Trong cùng một thời điểm những nhà đầu tư thường phải phỉnh phờ về những điều mà công trình của họ sẽ nhận được từ những mối quan tâm cộng đồng không chỉ là lợi nhuận như những dự án khác. Nó đòi hỏi phải có sự khuyến khích của cộng đồng để tạo ra những phạm trù riêng tư, chấp nhận sự đầu tư tài chính liều lĩnh như vậy.
Những nhà phát triển bất động sản thường nhìn thành phố trong những điều kiện về những cơ hội có thể tạo ra, những gì họ thường hay sử dụng để xây dựng. Ví dụ, một nhà phát triển về công trình văn phòng sẽ tìm kiếm những cơ hội xây dựng công trình văn phòng; nguời khác quan tâm đến bãi đậu xe thì sẽ tìm kiến cơ hội xây dựng những bãi đậu xe. Những người khác thì tự hỏi ‘Khu đất này sử dụng tốt nhất vào việc gì’ hoặc ‘ta sẽ làm gì đối với công trình này để làm gia tăng cảnh quan đô thị và sự thân thiện với người đi bộ’. Chính quyền bảo thủ thì nhìn quá trình của những cá nhân riêng lẻ ‘làm việc của họ’ tốt cho chúng ta và sẽ chỉ gây trở ngại về vấn đề sức khoẻ và an toàn ở tầng triệt. Thái độ của những nhà phát triển khác nhau một cách đáng kể và họ không biểu hiện một sự hạn chế về khả năng suy nghĩ thông thường. Một vài người rất quan tâm đến một cộng đồng tốt lành, những người khác thì không. Việc của họ không liên quan gì đến cộng đồng. Họ tạo ra lợi nhuận dựa vào sự đầu tư của họ. Họ không cần thiết đi phản đối lại sự điều hành của chính phủ, công việc của họ điều hành tạo ra khả năng phán đoán và không kiềm chế công việc của họ một cách tuỳ tiện.
Những nhà phát triển thường trông cậy vào những đường lối thiết kế nếu sự cải thiện đường lối đó dẫn đến việc chắc rằng sự đầu tư của họ là thành công. Hầu hết các nhà phát triển, tuy thế, giống như những kiến trúc sư, có một sự nhận thức mạnh mẽ - họ muốn làm mọi thứ theo cách riêng của họ. Ngày nay những tranh luận chính về TKĐT là làm cách nào để bao hàm hết các mối quan tâm cần thiết của nó. Chủ đề gì nên đặt ra về vấn đề điều hành cộng đồng và điều gì nên để cho quyền lợi cá nhân được hưởng? Những nghiên cứu riêng biệt về lĩnh vực này có một sự khác biệt đáng kể về câu trả lời cho vấn đề này. Phụ thuộc rất nhiều vào bối cảnh của dự án và mục đích phải thực hiện.
Những đối tượng của thiết kế đô thị
Một số đối tượng chung có thể được xác định về TKĐT. Việc xây dựng môi trường sẽ có hiệu theo phương thức mà nó vận dụng sự biến thiên được miêu tả trong ảnh 1.6. Nó sẽ được thiết kế để thúc đẩy việc tăng trưởng kinh tế. Nó sẽ cung cấp một khả năng cảm giác về tính liên tục mang tính lịch sử để đạt được những hình ảnh riêng biệt cho quần chúng. Nó sẽ duy trì trật tự và đạo đức xã hội và sẽ được thiết kế với ý thức về sự công bằng cho tất cả mọi người cho tới phạm vị mà ở đó có những thiết kế liên quan về mặt vật chất - physical design concerns (see Harvey, 2003).
Mục đích lớn nhất của thiết kế đô thị là chỉ ra những cơ hội, cách ứng xử và thẩm mỹ, cho tất cả mọi người dân và những du khách của thành phố và những vùng phụ cận. Những cơ hội đó cần phải được vận dụng. Tuy nhiên những cơ hội gì có thể tiếp cận được và làm cách nào có thể tiếp cận? Ai là người quyết định? Thị trường? Câu hỏi về chính sách cộng đồng là ‘Lĩnh vực công cộng sẽ can thiệp vào thị trường ở mức độ nào để đưa ra những cơ hội cho những người như vậy?’ và rồi ‘Sự tiếp cận đó trở thành cơ hội như thế nào?’ ‘Cho ai?’ ‘Còn những người trên xe lăn thì sao?’.
Thứ hai, nếu một người chấp nhận mô hình của Maslow, có một nhu cầu cơ bản cho mọi người là cảm giác tiện nghi lôi cuốn vào những hoạt động mà họ khao khát và được thừa nhận và tán thưởng bởi xã hội. Sự tiện nghi có hai mức độ về tâm lý học và sinh lý học. Mối quan tâm với vi khi hậu tự nhiên và sự đem lại cảm giác về sự an toàn và an ninh trong cuộc sống con người. Sự an toàn và an ninh có liên quan tới cảm giác về sự điều hành trên mọi mức độ riêng tư và trên mọi sự ứng xử của mọi người đối với một người. Chúng ta đã được chuẩn bị ở mức độ nào để rời bỏ sự riêng tư để cảm nhận sự an toàn bởi vì chúng ta vẫn ở dưới sự giám sát của cộng đồng? Mối quan tâm về an toàn cũng liên hệ tới tình trạnh phân cách giữa người đi bộ và người đi xe và chất lượng của việc xây dựng môi trường xunh quanh chúng ta.
Một mối quan tâm thiết kế là nâng cao chất lượng không khí của những giao điểm của những con đường, hành lang và đường đi bộ những nơi như quảng trường công viên và tầng trên mái. chất lượng không khí của khu vực và những điểm giao nhau có liên hệ tới việc đem lại cảm quan về sự an toàn cũng như cảm quan về giá trị của cá nhân và trở thành một phần của tổng thể xã hội, sự xắp đặt và sự mở mang của nó, những hoạt động diễn ra ở đó, và với những con người dự phần bên trong. Thế giới nhân tạo không tồn tại trong một sự trống rỗng. Sự tồn tại của nó trên những chỗ thích hợp trên mặt đất được định hình bởi khí hậu, địa lý, và quần thể động thực vật của vị trí đó. Một trong những đối tượng của TKĐT là một nơi như vậy không thể bị phá huỷ. Mối quan tâm ở đây là, hoặc sẽ là, cải thiện chất lượng cho chức năng của nó tốt hơn như một hệ thống tự thân, rồi quay lại, làm phong phú hơn những trải nghiệm của con người.
Những vấn đề đặt ra
Những câu hỏi cơ bản về TKĐT luôn là ‘điều gì làm lên một thành phố tốt đẹp’ Câu hỏi được nêu ra cả trên hai mức độ từ tổng thể đến chi tiết. ‘Ai là người sẽ ra quyết định?’ ‘Một quyết định được đưa ra, ai là người sẽ thực hiện chúng?’ ‘Có phải một thành phố tốt đẹp là sản phẩm của tổng hoà những tập hợp nhỏ những quyết định của mỗi cá nhân không liên đới với nhau, hoặc phải chăng ai đó đang cố gắng liên kết chúng lại?’ ‘Cái giá của việc chọn lựa cách này hay cách khác là gì?’
Thứ hai, ‘Mức độ mà sự điều hành của nhà chức trách (cá nhân hoặc cộng đồng) có thể đi vào để định rõ mục đích và phương tiện?’ Một kết quả tất yếu là ‘những giới hạn là gì, đối với quyền lợi của những nhà phát triển riêng biệt và những kiến trúc sư của họ để xây dựng nên điều họ muốn, nơi họ muốn, và họ muốn như thế nào?’ ‘Các mối quan tâm của cộng đồng là gì?’ Những điều mà đã từng được biết là rất khó để xác định nó dưới một nền dân chủ thực thụ không vụ lợi. Có lẽ mục đích ở đây là thiết kế cho một sự thịnh vượng với tất cả các mối quan tâm, nhưng tốt nhất, bất kỳ sản phẩm thiết kế nào cũng nên trình bày về quan tâm của một nhóm riêng biệt mà không làm tổn hại đến các mối quan tâm của nhóm khác. Trong những mối quan tâm của cộng đồng điều gì luôn là cốt lõi của sự bất đồng?
Thứ ba, mặc dù trong một kỷ nguyên thực dụng về tài chính một người có thể tranh cãi về sự trở lại của mối quan tâm đầu tư tư bản. Trong những xã hội tư bản những nhà phát triển bất động sản (tư nhân hay công cộng) tự mình hay bị thúc ép vào việc xây dựng một thành phố Piece-by-piece. Một trong những đối tượng của TKĐT thực sự là việc đảm bảo về mặt tài chính. Đối tượng khác là sự phát triển cà-rốt và cây-gậy thông qua việc khích lệ và hình phạt đối với sự phát triển của thành phố theo những phương thức đặc biệt: tạo ra những điều kiện thuận lợi cho những khu vực đặc biệt.
Bốn là, sự phân đoạn phát triển như thế nào? ‘đâu là nơi bắt đầu?’ ‘làm cách nào để phá vỡ cuộc sống của những người sống ở giai đoạn đầu của dự án khi dự án đi vào một giai đoạn xây dựng khác’ ‘Ai là người chịu trách nhiệm cho cuộc sống của những người đó bị phá vỡ trong một giai đoạn ngắn nhất có thể?’ Mục đích của cuốn sách này muốn chỉ ra thông qua những trường hợp nghiên cứu rằng những KTS, kiến trúc sư cảnh quan và những nhà quy hoạch thành phố làm thế nào để đưa những vấn đề đó vào trong những dự án TKĐT khác nhau. Ở cuối của cuốn sách (trong chương 11) trở lại thảo luận về vấn đề này và đưa ra một câu hỏi: ‘Những mối liên quan gì đã được thêm vào lĩnh vực TKĐT 50 năm qua?’ và rồi ‘điều gì sẽ xảy ra trong tương lai ?’ những gì chúng ta đã thêm vào trong quá khứ và hiện tại. Một vài điều trong số đó sẽ làm chúng ta ngạc nhiên.
Các ngành thiết kế và Thiết kế đô thị
Ba lĩnh vực thiết kế môi trường chính sử dụng thuật ngữ ‘urban design’ để diễn tả diện mạo công việc của họ. Ngành xây dựng dân dụng cho đến bây giờ đã làm như vậy mặc dù môn thiết kế hạ tầng cơ sở đóng vai trò là yếu tố chủ đạo trong TKĐT. Đối với rất nhiều người TKĐT và Quy hoạch đô thị là như nhau nhưng sản phẩm mà chúng đưa ra thì rất khác nhau (xem chương 4). Thường thì, Quy hoạch đô thị có liên quan chính tới phân bỗ sử dụng đất trong mối quan hệ với hệ thống giao thông. Nó tập trung vào vấn đề phát triển kính tế mà không quan tâm đến những hệ quả thiết kế về mặt vật chất sau này. Bây giờ, những quy hoạch đô thị tốt xem xét đến 3 hay 4 chiều không gian thành phố hơn là cho phép chúng bị nhào nặn bởi những quyết định khác. TKĐT là một hành động nghề nghiệp riêng biệt thực hành ở một mức độ to lớn bởi vì nghành Quy hoạch thành phố đã bỏ quên việc xây dựng môi trường trong những suy tính đối với tương lai của đô thị.
Chất lượng của cảnh quan đô thị đóng góp một phần chính tới sự nhận thức về chất lượng của các thành phố. Những đặc tính thành phố về mặt vật chất được định rõ bởi trạng thái tự nhiên của những con đường, những quảng trường và những không gian mở khác trong điều kiện chúng được định hình ra sao bởi các nhân tố xunh quanh (Goldfiger, 1942). Để một sinh thể thành phố khoẻ mạnh phụ thuộc vào sự tương hỗ giữa các nhân tố tự nhiên và nhân tạo. Một vài kiến trúc sư cảnh quan kể từ giai đoạn của Olmsted đã gắn chúng vào với TKĐT.
Những kiến trúc sư, nhìn nhận TKĐT trong kiều kiện của những thể loại sản phẩm đặc biệt: Công trình là những đối tượng chủ đạo hơn là những không gian mở (xem chương 6). Sự định hướng của một dự án TKĐT như một lĩnh vực nghề nghiệp cũng đã đến từ những kiến trúc sư với một sự quan tâm rộng rãi. Họ đã quan tâm đến thiết kế của những tổ hợp công trình, và những thành phố và những đơn vị láng giềng như vậy. Một vài ý tưởng của họ và hệ thống khái niệm dựa trên chủ nghĩa duy lý và những trải nghiệm về thành phố. Vẫn có những kiến trúc sư khác, tuy nhiên, đã trở nên rất thực dụng. Họ chỉ quan tâm đến một vấn đề là làm sao để những dự án khởi đầu và kểt thúc. Một vài dự án được xem xét ở đây có lẽ đã thành ra một thứ gì đó kỳ quái và ích kỷ nhưng phần lớn, là dựa trên cảm quan của duy tâm chủ nghĩa. Một phần khó khăn trong việc định rõ cổt lõi của TKĐT ngày nay là mỗi một ngành nghề đều đòi hỏi về nó như là của riêng mình. Tập thể kiến trúc sư thì hướng TKĐT tới những công trình riêng lẻ, những kiến trúc sư cảnh quan thì gắn nó với quảng trường, nhà Quy hoạch thì đưa tới những điều khoản rộng lớn khác biệt hơn. TKĐT, tuy nhiên, liên quan hầu hết tới những vấn đề đó, không riêng biệt mà trong sự phối hợp. Nó nỗ lực cộng tác giữa những yếu tố riêng tư và công cộng, và giữa những nhà thực hành và những nhà nghiên cứu. Nó giải quyết vấn đề ở cho thế giới trong bốn chiều không gian.
Chú thích
TKĐT bao hàm vô số những hoạt động nghề nghiệp khác nhau. Liên quan tới thiết kế, định hình bối cảnh, chính trị và vật chất, để định rõ về TKĐT là rất ống khăn. Mô hình về mục tiêu phục vụ cho lĩnh vực công cộng và xây dựng môi trường ở mọi khía cạnh như đã trình bày ở ảnh 1.6 đưa ra một khung độ cho việc xem xét những gì là khác biệt và tầm quan trọng của nó trong những trường hợp khác nhau đã bao hàm trong cuốn sách này, Những mục tiêu về lĩnh vực công cộng khác trong các nghiên cứu bao hàm ở đây được cho là khá khác nhau về bối cảnh của nó, những vấn đề và quá trình ra quyết định phức tạp hơn. Rất nhiều thành phần tham gia vào. Nhiều vấn đề mở ra và đổi thay đối trong một xã hội, nhiều vấn đề phức tạp và khó hiểu tranh luận thông qua mục đích và phương tiện của nó và những quan điểm đa dạng khác nhau về kết quả nó đạt được.
Sự cộng tác với các nhà Quy hoạch, kiến trúc cảnh quan và các kiến trúc sư liên quan cũng như các kỹ sư trong một bối cảnh chính trị dễ thay đổi như vậy là rất khó khăn và thường là rất căng thẳng. Mục đích của chương này là phác thảo ra những tiền đề cho những thảo luận về những thể loại phát triển đô thị khác nhau đã bị xếp vào đề tài TKĐT bởi người này hay người khác. Đối tượng của chương sau là trình bày xem xét các dạng thủ tục TKĐT và hiểu biết về những kỹ thuật cho phép tạo hình nên những thiết kế - mục tiêu và phương tiện của nó. Mục đích là trình bày các dạng nhận thức về phạm vi công việc TKĐT đã dẫn dắt suốt 50 năm qua và được dẫn dắt cho tới ngày nay – đó là những vấn đề chính trong chương 3.


0 Nhận xét:
Đăng nhận xét
Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]
<< Trang chủ