Nguyễn Hoàng

"...từ trong chính bạn hãy sửa chữa những khuyết tật của dân tộc mình ... Garcia Marque

Thứ Hai, 6 tháng 4, 2009

THiết kế đô thị thủ tục và sản phẩm JON LANG - Intro


Thành phố không thuộc về một cá nhân riêng lẻ và những quyết định ích kỷ
(Enrique Peñalosa, Mayor of Bogotá)

Con người thì mãi nỗ lực quy hoạch, còn Chúa ngài chỉ cười
(Yiddish proverb)

For three Verges
Herti
Alix
Madeline

Bonus tracks
Đoạn Intro của Jon khá dài nhưng chúng ta không thể bỏ qua đối với một tài liệu mang tính hàn lâm cao như thế này. Hội nghị về thiết kế đô thị lần đầu được tổ chức tại đại học Harvard vào năm 1956 dưới sự lãnh đạo của José Luis Sert . Tiền đề của nó là những quan điểm về việc phát triển những thành phố mà chúng ta đã biết như Garden city của Howard, mega city của Diagram... Nhưng điều mà làm cho thiết kế đô thị trở nên khác biệt gây sự chú ý nhất đó là khả năng giải quyết đối với lĩnh vực công cộng và xúc tiến giao tiếp cộng đồng, từ đó mở rộng và xác định một khái niệm thiết kế đô thi chuyên nghiệp trong từng bối cảnh địa phương cụ thể – điều mà các nhà hiệu đại chủ nghĩa duy ý chí không hề để ý tới. Và điều Jon muốn làm là tạo ra một hệ thống hoá các trải nghiệm trong quá khứ, tạo ra những pre-form để có thể từ đó nhận diện về TKĐT và đánh giá về những dự án TKĐT trong tương lai....NQH.


 

Lời giới thiệu: Luận đề
Trong tất cả các lĩnh vực thiết kế, thiết kế đô thị là một ngành có tác động mạnh nhất tới trạng thái tự nhiên của các thành phố và cuộc sống trong đó. Tuy nhiên theo logic các mô hình sử dụng đất được thực thi bởi những nhà quy hoạch, vẻ đẹp và những tiện ích trong các tòa nhà cùng với cảnh quan tự nhiên, thì sự kết hợp của các cuấu trúc trong ba chiều không gian và theo thời gian mà đã đem lại cho một thành phố những đặc trưng riêng biệt.

Thành phố chịu tác động của vô số những nhà thiết kế trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào với những quan tâm riêng rẽ. Thiết kế đô thị bao gồm việc xắp xếp và những hành động có ý thức trong việc thiết kế những thành phố mới và những nơi định cư cho con người hoặc tái thiết lập những nơi đã có trong giới hạn của nó, phản ứng lại với những vấn đề bức xúc về dân cư. Trên tất cả nó trình bày những hoạt động sáng tạo xác thực nhằm thay đổi thế giới về mặt vật chất cũng như về xã hội. Nó cần thiết phải được làm một cách đúng đắn. Để thiết kế đô thị được thực hiện một cách đúng đắn cần thiết phải có một nền tảng kiến thức vững vàng. Nền tảng đó có thể được kết hợp một cách tốt nhất trong cấu trúc của một sự miêu tả trừu tượng và lý thuyết diễn giải về cấu trúc đô thị và sức mạnh có thể xắp đặt nó nhưng thực tế là những nhà thiết kế nói chung không quan tâm đến việc tìm kiếm giải pháp từ những nền tảng kiến thức như vậy.

Họ thường dựa và những quyết định mang tính chất tiền lệ. Chúng ta đương nhiên có thể học hỏi được rất nhiều từ những gì chúng ta đã làm trong quá khứ, từ những nghiên cứu về những dự án hoàn chỉnh. Thiết kế đô thị là một thuật ngữ khó hiểu. Nếu mục tiêu của cuốn sách này là làm sáng tỏ ý nghĩa của trong mối quan hệ của các sản phẩm mà nó tạo ra và quy trình sáng tạo ra chúng, thì cần thiết phải được bắt đầu bằng sự minh chứng rằng tại sao những sự chọn lọc như vậy là cần thiết. Đối với một số chuyên ngành thiết kế có lẽ không cần thiết phải làm việc đó. Thiết kế đô thị có thể mang bất cứ ý nghĩa nào nếu muốn, tuy nhiên rất khó có thể thúc đẩy nó phát triển vì những thất bại bắt gặp ngay trong việc tìm hiểu những khái niệm về tự nhiên, mục tiêu và phương pháp một cách rõ ràng .

Tuy nhiên mục tiêu của cuốn sách này không chỉ muốn đưa ra những ý nghĩa rõ ràng về thiết kế đô thị mà còn muốn minh họa rất nhiều cố gắng của thiết kế đô thị ở nhiều thể loại khác nhau trong suốt 50 năm qua. Giờ là thời điểm có thể đưa ra tất cả những kinh nghiệm mà chúng ta đã có để mở đầu cho các loại hình hoạt động thiết kế đô thị mà đã đưa ra một số cấu trúc xây dựng trong lĩnh vực này. Loại hình này được phát triển từ: (1) lý thuyết trong môn học về kiến trúc, kiến trúc cảnh quan và quy hoạch và (2) một loạt những phân tích về những gì đã được cho rằng là những dự án thiết kế đô thị. Một hệ thống các loại hình sau đó được sử dụng làm sáng tỏ một số các nghiên cứu minh họa về những quan điểm đặc biệt trong những bối cảnh chính trị và xã hội đặc biệt. Hệ thống phân loại có thể không được rõ ràng một cách thuần túy những ranh giới bên trong quy trình thiết kế đô thị thường bị làm lu mờ đi và rất khó có thể suy luận ở một mức độ chính xác. Và đó là điều làm chúng ta phiền muộn, sao lại như vậy?

An Observation
Trong tiểu luận của ông ta,’chính trị và Anh ngữ’, viết năm 1946, George orwell đã thấy rằng những từ như nền dân chủ, chủ nghĩa xã hội, sự tự do, sự ái quốc, hiện thực và công lý đã có một số ý nghĩa khác nhau mà ‘không hề tương thích với nhau ’. Trong trường hợp về nền dân chủ, ông đã lưu ý ‘không chỉ không tán đồng về định nghĩa mà còn cố gắng làm cho nó bị chống lại về mọi mặt. Hậu quả là ‘những người bào chữa cho các dạng chế độ cai trị khẳng định đó là một nền dân chủ’ (Orwell,1961). Thế giới nghệ thuật cũng tìm kiếm tính thiết thực cao trong sự đa nghĩa của ngôn từ. những từ như ‘lãng mạn, chất dẻo, giá trị, con người, cái chết, nhạy cảm, tự nhiên, sự sống’ Orwell quả quyết, đều chẳng có ý nghĩa gì.

Hơn nữa, những người mà sử dụng chúng không mong đợi chúng có một ý nghĩa nào đó. Bởi vậy, các nhà phê bình có thể thảo luận về một chủ đề mới mẻ mà một người khác đang nói và có thể đồng ý hoặc không đồng ý nếu muốn. Orwell đã lưu tâm nhiều đến lĩnh vực kiến trúc. Các vấn đề về nhân trắc, tổ chức, động lực và bối cảnh đều được các kiến trúc sư sử dụng một cách lỏng lẻo như nhau. Có vẻ thuận lợi hơn trong ba lĩnh vực (chính trị, nghệ thụât và kiến trúc) với những từ đa nghĩa và cũng vì thế và cũng rất vô nghĩa. Nó cho phép thảo luận một cách tự do dẫu rằng không được rõ ràng cho lắm. Lời bình luận tương tự có thể xảy ra với việc sử dụng chuyên mục ‘thiết kế đô thị’ ngày nay. Đương nhiên phần đông các ngành thiết kế và các ngành khác liên quan đến cái mà họ gọi là thiết kế đô thị ngăn ngừa việc xác định một điều khoản nào đó. Hoàn cảnh mà mỗi thành phần có thể có ý kiến chuyên môn về một thiết kế đô thị và nói về nó với những người khác mà không hề có một sự hiểu biết chung nào.

Sự hỗn độn này là do những kiến trúc sư, kiến trúc cảnh quan và những nhà quy hoạch cảm thấy không cần thiết hay không muốn đóng góp một cách xác thực trong việc phát triển của những thành phố và những khi định cư khác. Chúng ta thực sự cần thiết phải biết rằng chúng ta đang nói về điều gì và một điều khoản nào đó mà chúng ta sử dụng. Liệu chúng ta có khả năng làm sáng tỏ giá trị của chúng ta là gì? Một sự phân tích về nhưng dự án công trình đã hoàn thành trong quá khứ. Năm thập kỷ trôi qua đã có những quan tâm đến những gì mà thiết kế đô thị bày ra cho chúng ta thấy một cơ hội để hiểu biết về lĩnh vực thiết kế đô thị đã đến. Một tập hợp có hệ thống các nghiên cứu tập trung vào những dự án như một sản phẩm và làm cách nào chúng có thể được phát ra một cách hợp thức hóa để phát triển thành một loại hình, một hệ thống phân loại về những dự án thiết kế đô thị, làm tăng thêm tính rõ ràng khi thảo luận về thiết kế đô thị. Một loại hình rõ ràng cũng cho phép các ngành thiết kế khác nhau hiểu thêm về các phương pháp thiết kế đô thị khác nhau để cho ra một kết quả cần thiết trong một bối cảnh chính trị xã hội riêng. Trước khi tạo ra một loại hình đó, cần thiết phải hiểu về một thiết kế đô thị ở những khái niệm cơ bản, sau đó thì các trường hợp đặc biệt có thể đưa ra xem xét.

A Preliminary Note on Urban Design
Những lưu ý sơ bộ về thiết kế đô thị
Đã 50 năm kể từ khi thuật ngữ urban design lần đầu được sử dụng và chắn rằng chỉ mới ba thập kỷ kể từ khi nó được sử dụng một cách phổ biến. Thật khó khăn nếu không muốn nói là không thể khi muốn định hình nguồn gốc thực sự của thuật ngữ đó. Hội nghị về thiết kế đô thị lần đầu được tổ chức tại đại học Harvard vào năm 1956 dưới sự lãnh đạo của José Luis Sert và một chương trình đào tạo đầu tiên về thiết kế đô thị đã khởi đầu vào cuối thập niên đó tại harvard và trường đại học Pennsylvania. Những chương trình đó đã có những tiền đề với những chương trình thiết kế thành phố mà đã có những ảnh hưởng rộng rãi trên thế giới tại các trường đại học Liverpool và École des Beaux-Arts ở Pháp.

Thiết kế đô thị như chúng ta biết ngày nay, được phát triển bởi sự phản ứng lại những giới hạn của những mô hình triết học và thiết kế duy lý và duy nghiệm, của những nguyên tắc của chủ nghĩa hiện đại trong kiến trúc và quy hoạch thành phố (xem chương 1). Một phần nào đó thật mỉa mai rằng đó được phát triển dựa và sự phản kháng lại tất cả những thể loại mô hình hóa trong thiết kế - những phương pháp thiết kế khái quát mà đã được tôn vinh như những tiêu bản tốt trong thực hành – mà Sert đã chủ trương. Các dạng phê bình nhận được từ phía các kiến trúc sư liên quan tới sự vận động của Garden Cities và những ai sử dụng phương pháp Duy lý đối với UD trên các thuộc địa của Châu Âu (mà đã được áp dụng trên khắp thế giới) hướng cho rất nhiều các nhà quy hoạch thành phố đi ra khỏi mối quan tâm đến những đặc tính vật lý của các thành phố và làm cho rất nhiều kiến trúc sư xa rời các vấn đề về xã hội tự nhiên.

Những kiến trúc sư người nuôi dưỡng mối quan tâm của mình tới các vấn đề xã hôi và thiết kế trong không gian bốn chiều của vật chất thì có được cảm hứng để làm tốt hơn nhờ những lời chỉ chích của Jane Jacobs (1961), đặc biệt, cũng như những sự phản ảnh của các kiến trúc sư như Brent Brolin (1976) và Peter Blake (1977). Có 3 giai đoạn phê bình về cách thức mà thiết kế đô thị được thực hành dưới sự bảo trợ của những nhà hiện đại chủ nghĩa. Đó là: (1) kiểu mẫu những con người, cách cư xử và cách thức con người trải nghiệm môi trường qua tay những nhà thiết kế tối giản một cách thái quá; (2) mối quan hệ trong môi trường sống của một cá nhân được hiểu biết một cách quá hời hợt và như một hệ quả, (3) một mô hình và một lý thuyết về rất nhiều những dự án phát triển đô thị trên quiy mô lớn dựa trên những mục tiêu cá biệt không thỏa đáng.

Một vài nhà phê bình sẽ quả quyết rằng chúng ta sẽ thành công trong việc phản ứng một cách triệt để tới những chỉ trích nhưng có rất nhiều dự án đô thị đã được thừa nhận rộng rãi trên thế giới. nhiều thứ có thể học hỏi từ đó. Nhiều thứ có thể học hỏi từ những gì đã được xem là sự thất bại. Cả hai dạng đó dều được bao hàm trong cuốn sách này. Có rất nhiều định nghĩa về thiết kế đô thị. Trở lại 50 năm trước với tất cả các dạng gốc của thuật ngữ thiết kế đô thị đáp ứng cho chúng ta rất nhiều. vào năm 1955. Clarence Stein nói thiết kế đô thị ‘is the art of relating STRUCTURES to one another and to their NATURAL SETTING to serve CONTEMPORARY LIVING’ (Stein,1955). TIềm ẩn trong lời phát biểu của ông ta là một sự quan tâm đến những nhu cầu của sự giao tiếp công cộng trong thiết kế về lĩnh vực công cộng trong các khu dịnh cư của con người. Lời phát biểu đó cũng rất phổ biến và gặp phải một số bàn cãi xung quanh nó. Một loạt tác phẩm đã cố gắng đi theo tuyên ngôn của Stein cũng sẽ được bao hàm trong cuốn sách này. Mục tiêu là để hiểu về nguồn gốc, tri thức và tài chính của những dự án đặc biệt đó đã vẽ lên. Giới hạn này đạt được một hệ thống phân loại cân thiết, còn hơn là sự bừa bãi của một số nhà quan sát đã tạo ra.

An Evolving Typology
Một hệ thống loại hình, khi không xem xét tới nghiên cứu gốc gác, xem xét tới sự phân loại hặc phân chia các kiểu mẫu ‘chúng tôi nghĩ, quan niệm, trình bày, và nói về mội nơi nào đó về tất cả các phạm trù, và chúng ta xây dựng, chiếm lĩnh, và điều chỉnh các địa điểm đó trong các phạm trù đều không hại gì’’ (Schneekloth and Franck, 1994). Có một lich sử lâu dài trong việc phân loại các sự án bởi các kiến trúc sư và các ngành thiết kế khác thường xuyên sủ dụng ngôn ngữ về các thể loại công trình, ví dụ, nhưng trong điều kiện về hình học và hệ thống cấu trúc xây dựng (Pevsner,1976). Sự phân loại các ví dụ cho phép nhà thiết kế xem xét các tiến trình và các sản phẩm sẽ được sử dụng gợi mở những vấn đề sẽ phải đối mặt và những phương thức nào có thể đưa ra giải quyết .

Luận cứ trình bày trong cuốn sách này, đặc biệt trong chương 3, cho phép hiểu về một lĩnh vực thiết kế đô thị một cách hữu dụng trong việc phân loại các dự án thiết kế đô thị sử dụng các dạng ma trận – matrix ba chiều – trong các điều kiện: (1) thiết kế và thủ tục thực thi, (2) thể loại sản phẩm và (3) một mô hình chính mà cấu trúc và qúa trình định dạng sản phẩm. Tiềm ẩn trong mô hình là trọng tâm mà thiết kế quan tâm tới (công năng của sản phẩm được xem xét một cách quan trọng hơn). Có nhiều kích thước hơn mà có thể thêm vào hệ thống nhưng không cần thiết phải cân bằng giữa việc phải đạt được sự thấu đáo mọi khía cạnh và sự cần thiết sử dụng hệ thống đó. Đối với tầm quan trọng mà mô hình ba chiều có thể đem lại (xem ảnh 3.8)

Hệ thống phân lọai mô hình 3 chiều này cho phép những đặc tính cơ bản của tất cả các sự án riêng rẽ có thể được xác định vì thế những đặc tính quan trọng trong số các thể loại dự án khác nhau sẽ được hiểu một cách cặn kẽ. Đối với các nghành thiết kế khác sự phân loại này đưa ra những câu hỏi cơ bản về một khỏi đầu tốt nhất cho bất cứ một hoàn cảnh nào. Sự nguy hiểm là những sự tương hợp hay không giữa trạng thái của trường hợp đó và trạng thái mà các nhà thiết kế đối mặt và có thể xem xét.

Case Studies: Successes and Failures
Những nghiên cứu riêng rẽ trình bày một sự tích lũy lịch sử của rất nhiều lĩnh vực thể hiện sự nỗ lực của con người. Các lĩnh vực thiết kế sử dụng chúng một cách rộng rãi mặc dù ý nghĩa của mỗi trường hợp nghiên cứu là rất khác nhau. Trong khi thiết kế chúng ta đặt nặng niềm tin vào các kiến thức xây dựng trên các hoàn cảnh riêng biệt đã chuyển hóa thành những lý thuyết hoặc những biểu đồ. Nếu Orwell đã viết ngày nay người ta không chỉ biết về urban design một cách mơ hồ mà ngay cả trong những nghiên cứu riêng rẽ cũng vậy. Những gì mà chúng ta gọi là ‘case stady’ nhắm tới là mô tả về chất lượng hình học của các thiết kế riêng biệt. Phương thức mà các biểu đồ đưa vào thực tế, động cơ của các nguồn lực chính trị đã định dạng nên chúng về giá trị, các mô hình kinh tế, thậm chí cả phương thức sử dụng chúng, tất cả đều liên quan tới các lĩnh vực nghiên cứu như vậy. Nếu được thực hiện một cách triệt để, tuy nhiên, các trường hợp riêng biệt có thể chúng tỏ được trải nghiệm của nó về quá trình và phương pháp sử dựng để đạt được một kết quả thiết kế đặc thù. Mục đích là minh hoạ cho trạng thái tự nhiên của thết kế đô thị cả về nghề nghiệp lẫn con người, đăc biệt với những chính khách.

Một cấu trúc điển hình cũng rất hữu ích trong việc đạo tạo các nhà thiết kế công trình. Một đối tượng cung cấp chuyên nghiệp VỚI NHỮNG thông tin cơ bản mà họ có thể sử dụng trong việc sáng tạo ra những thiết kế thích đáng và quá trình thực thi giải quyết các vấn đề của thiết kế đô thị, đem lại cho những sinh viên và những người quan tâm khác một sự hiểu biết về thiết kế đô thị. Những trường hợp nghiên cứu riêng rẽ suất sắc sẽ trình bày một hiểu biết toàn diện về lịch sử của những dự án từ sự khởi đầu đến kết thúc của nó , chúng phân biệt đâu là vấn đề trọng tâm và đâu là ngoại vi, nhận diện những vấn đề đã ghi dấu vào trong bối cảnh, nhữnh hành động gượng gạo trong việc giải quyết các vấn đề trong quá trình phát triển, một giải pháp chúng tiến triển như thế nào, một chiến lược và những phương sách thực thị được sử dụng để hoàn thành. Chúng cũng có thể xác định một thành công hay thất bại của một dự án thiết kế trong một khu vực cụ thể. Những gì nhận thúc được đó chính là chìa khoá của thành công hay thất bại. Rất nhiều biểu đồ bao hàm trong cuốn sách này được quan tâm đến nhiều nhất bởi vì chính sự thành công về mặt tài chính của nó. Lợi nhuận tài chính và giá thành có thể được cân nhắc mặc dù chủ đề liên quan tới những ai có được lợi nhuận và những ai không còn sự kiên nhẫn. Giờ đây một số các dự án thành công về mặt tài chính một cách rõ ràng chịu sự thách thức trong các điều khoản của chất lượng cuốc sống, chúng đưa ra những thành phần đặc biệt cho dân số sống ở đó để ở hay là để sử dụng chúng. Chức năng đa chiều của một cách thức xây dựng môi trường mà tất cả các dự án được nghiên cứu ở đây thành công trong con mắt của ai đó và là một thất bại đối với người khác

Hầu hết các nghiên cứu về thiết kế đô thị xem xét những sản phẩm thiết kế từ quan điểm của các nhà thiết kế. Quá trình nghiên cứu của một tập thể các nhà thiết kế trình bày những gì họ đã làm, về ý tưởng và tại sao lại như vậy. Làm như vậy họ có khuynh hướng thoát khỏi việc miêu tả động lực của quá trình design/decision-making. Họ tập trung trọng tâm vào cấu trúc, kiến trúc. Tầm quan trọng đối với việc phát triển của các nghiên cứu riềng rẽ cần thiết đựơc đặt vào việc phác thảo từ những quan sát, thứ đến là những gì nằm ngoài quá trình là sự chỉ trích nhắm vào họ. Tiếng nói của các nhà thiết kế cần thiết phải được lắng nghe nhưng phải đặt bên ngoài bối cảnh nghiên cứu. Có một số nghiên cứu về thiết kế đô thị đã làm điều đó. Martin Millspaugh (1978) đã viết trong một nghiên cứu phên bình về Charles Center, Baltimore, Leonard Ruchleman (1977) nghiên cứu về động cơ chính trị và quá trình thiết kế đã đem lại cho toà nhà World Trade Center ở New York sau này , Alan Balfour (1978) đã miêu tả về nhiều kế hoạch khác nhau liên quan tới việc xây dựng toà nhà Rockefeller Center, và David Gordon (1997) đã viết về lịch sử phát triển thăng trầm của Battery Park City . Cũng có những báo cáo mở rộng về La Défense và Canary Wharf, đã chứng minh cho việc khởi đầu một cách vừa đủ cho dự án phát triển World Trade Center. Rải rác có sự tham khảo tới rất nhiều diện mạo của các sự án đô thị và quá trình thiết kế xuất hiện trong những bài viết về kiến trúc và quy hoạch. Cuốn sách này nỗ lực, một cách không hổ thẹn, bàn về những bài bình luận đã tồn tại đó. Tuy nhiên cũng cố gắng hình thành một tam giác thông tin bằng những nghiên cứu khác nhau, thường hay trái ngược nhau, nguồn tài liệu gốc, các cuộc phỏng vấn và thực hiện các cuộc quan sát thực tế.

The Selection of the Case Studies
Những nghiên cứu ở đây bao gồm những ví dụ tiêu biểu về những phương pháp khác nhau liên quan tới thiết kế đô thị. Chúng được phác thảo cho những thành phố chủ yếu tự thân đã có những quan tâm đến chất lượng của việc xây dựng cấu trúc của nó trong khoảng 50 năm qua hoặc những thành phố ít đựoc quan tâm hoặc không biết cách giải quyết một cách hiệu quả những thiết kế về mặt vật chất. Những dự án đựoc lựa chọn làm ví dụ về những gì đã xảy ra trên toàn thế giới. Với hai trường hợp ngoại lệ là Rockefeller Center ở New York và Riverwalk ở San Antonio. Một ví dụ đã được lựa chọn từ những dự án đã thực hiện kể từ khi thuật ngữ “urban design” được sử dụng từ năm 1950. Không cần biết đến những dự án có tiếng xấu nhất hoặc thành công nhất. Chúng được chọn để giải thích về những quan điểm đặc biệt để làm gia tăng sự hiểu biết của chúng ta. Một số nghiên cứu có nguồn gốc từ những năm 1960,1970 và 1980. Một số khác đã được khởi xướng gần đây hơn và phát triển một cách nhanh chóng. Chhúng đã bắt đầu và hoàn chỉnh trong suốt những năm 1990 và 2000 sau này.

Completed Projects
Những dự án hoàn chỉnh
Rất nhiều những nghiên cứu giải quyết những dự án mà nó chưa bao giờ được xây dựng những lại rất thú vị về mặt kiến trúc. Những mô hình đó đều bị xếp xó, một vài thì rất là mơ hồ, về người có thẩm quyền thực hiện quy hoạch và văn phòng kiến trúc ở trên khắp thế giới. Những mô hình khác thì đưa ra bàn bạc với những ý nghĩa quan trọng – có thể chứng minh, theo bối cảnh và quy mô – như chỉ trong tình trạng thiết kế. Tất cả mô hình nhận được giải thưởng thiết kế đô thị của tạp chí Architectural Record năm 2004 – quy hoạch khu vực trung tâm Chicago, quy hoạch mới trong số rất nhiều quy hoạch cho vịnh Mission của San Francisco, đồ án Urban River Vision cho Worcester, Masssachusetts, quy hoạch Coyote Valley ở Califonia và quy hoạch Recreation Corridor cho St Louis - đều chỉ là những dự án tồn tại trên giấy (urban design 2004). Những trường hợp trình bày ở đây đặt trọng tấm vào quá trình sử dụng và hoàn thiện các mô hình cũng như những cấu trúc cuối cùng và chức năng của nó ra sao. Vì vậy, tất cả chỉ có 4 đồ án được đưa đến thực hiện mặc dù rất nhiều đồ án chỉ được hoàn thiện từng phần và những cái khác thì đang trải qua sự thay đổi căn bản kể từ khi chúng đựoc hoàn thành. những mô hình vẫn rất phong phú trên bản vẽ như việc tái phát triển Worl Trade Center ở New York, mô hình Shanghai Waterfront, việc sử dụng trường học như một chất xúc tác thúc đẩy phất triển như ở Chattanooga và trung tâm Shenzhen Citizens. Những lời bình luân về chúng được ám chỉ như là những ‘notes’ hơn là những ‘cases study’. Chúng đựoc bao gồm ở đây bởi vì chúng là những mối qua tâm đặc biệt trong môi trường chính trị ngày nay. Đồ án Heritage Walk ở Ahmedabad cũng được kể ra đây như một sự lưu ý bởi vì nó không liên quan nhiều đến thiết kế về mặt vật chất -physical design . Arcosanti vẫn còn rất lâu mới hoàn thành nên nghiên cứu của nó cũng chỉ tham klhảo như là những lời chú thích - note.

The International Character of the Case Studies
Đặc điểm quốc tế của những nghiên cứu riêng biệt
Những nghiên cứu được thực hiện trên khắp thế giới. Trong một kỷ nguyên của toàn cầu hoá thì điều quan trọng phải hiểu về sự khác biệt về những công trình được thực hiện ở các khu vực rất khác nhau. Cấu trúc của một sản phẩm thiết kế đô thị hình thành dựa trên những khát vọng trong một bối cảnh kinh tế xã hội riêng. Nó rất hợp để minh hoạ về cấu trúc của một sản phẩm nhưng nếu không hiểu về giá trị của nó sẽ dẫn tới học hỏi được rất ít từ chúng. Có một vài điều nhấn mạnh trong cuốn sách này về các mô hình ở Mĩ, Anh và các quốc gia khác có một hệ thống pháp luật đã định hình từ trước. Lý do là nếu một cá nhân có thể hiểu về quy trình thiết kế đô thị trong một xã hội nơi mà những quyền lợi cá nhân, đặc biệt quyền sở hữu tài sản giữ một ý nghĩa lớn lao và nơi mà vai trò quyết định là quan trọng trong việc thiết lập những quyền hợp pháp lúc đó một người có một nền tảng để đưa ra những câu hỏi về trang thái tư nhiên của thiết kế đô thị trong bối cảnh luật pháp và chính trị của những xã hội khác nhau.. cũng có những ví dụ rút ra từ những nước khác nhau nơi mà có hiến pháp và hệ thống luật pháp, quyền lợi cá nhân và cộng đồng không được biết tới. Những trưòng hợp nằm trong phạm trù này đã được củng cố bởi vì chúng minh hoạ về những thủ tục đặc biệt đã phổ biến đối với tất cả các thiết kế đô thị.

Developing the Argument
Phát triển lý luận
cuốn sách đựoc chia thành 4 phần. Phần đầu tiên, trạng thái tự nhiên của thiết kế đô thị và ngành thiét kế đô thị” được đề cập đến trong việc định rõ trạng thái tự nhiên của thiết kế đô thị như là một hoạt động chuyên nghiệp. Với chủ đề là thiết kế đô thị làm đẩy mạnh chất lượng của lĩnh vực công cộng của các thành phố và các khu vực đô thị khác. Đề cập đến những vấn đề thực sự cấu thành nên lĩnh vực công cộng với nguyên tắc về sự mâu thuẫn công cộng và những quan tâm riêng tư trong việc định hướng phát triển. Một suy nghĩ rất quan trọng về sự khác nhau giữa các sự án thiết kế đô thị thường không nằm ở trong phương thức của các điều khoản đối với một sản phẩm mang tính tự nhiên (những đô thị mới, sự phục hưng đô thị, những quảng trường), nhưng lại nằm trong điều khoản khác trong số 4 phương thức để tiến hành một dự án. Đặc biệt, một nét độc đáo, như đã giải thích ở chương 2 và 3, được rút ra trong số ‘total urban design’ và ‘all-of-a-piece’ ‘piece-by-piece urban design’ và ‘plug-in urban design’.

Các loại hình phát triển trong phần đầu của cuốn sách dựa trên những điều khác biệt đó. Ở phần hai của cuốn sách, ’các ngành thiết kế truyền thống: sản phẩm của nó và thiết kế đô thị’ hình dung về một lĩnh vực thiết kế hướng tới thiết kế đô thị trong các điều điện của một dạng sản phẩm đặc biệt. Thành phố, hoặc các đô thị, quy hoạch hướng tới sự quan niệm thiết kế đô thị như là một ngành quy hoạch sử dụng đất trong mối quan hệ với hệ thống giao thông, dẫu rằng quan niện này còn khác nhau giữa các quốc gia với nhau. Ở một vài thành phố thiết kế đô thị có nghĩa là quy hoạch thành phố hay với nhiều quốc gia quy hoạch thành phố có nghĩa là thiết kế đô thị. Kiến trúc cảnh quan có xu hướng xem thiết kế đô thị như là việc thiết kế đường chân trời-horizontal plane giữa các toà nhà: con đường, những công viên và những quảng trường. Kiến trúc, trái lại, có xu hướng xem TKĐT như một thiết kế về các toà nhà trong một bối cảnh hoặc một thiết kế về tổ hợp công trình. Điểm mấu chốt của công việc TKĐT nằm trong phần 3 của cuốn sách này ‘The core of urban design work: procedures and products’.

Chương bốn phác thảo ra một loạt các hành động như một sự biện hộ hoặc một sự minh chứng. Mục đích không chỉ muốn chỉ ra hệ thống cấu trúc của một lĩnh vực thiết kế đô thị, mà còn minh hoa bằng rất nhiều ví dụ về các công trình thiết kế đô thị có thể được sử dụng làm mẫu (hoặc không nên lấy làm mẫu) đối với các dự án TKĐT ở các trường hợp đặc biệt trong tương lai. một vài ví dụ đã đóng vai trò làm mẫu cho các dự án TKĐT gần đây. phần cuối của cuốn sách ‘The future of urban design’ có lẽ là quan trong nhất. Nó đưa ra một loạt các câu hỏi: ‘chúng ta học hỏi được những gì từ các nghiên cứu riêng rẽ?’; ’ điều gì sẽ xảy ra đối với TKĐT ngày hôn nay và trong tương lai? ’ ‘và từ đây chúng ta sẽ đi về đâu?’ câu trả lời cuối cùng phụ thuộc vào sự sẵn sàng của các ngành thiết kế truyền thống tham gia thảo luận về tương lại của các thành phố dựa trên kiến thức về việc xây dựng nên những cấu trúc chức năng mang tính riêng biệt chứ không phải nềm tin để tạo ra một khu vực tốt đẹp thông qua những mối quan tâm nghề nghiệp và những giấc mơ riêng biệt của họ. Một lĩnh vực cần thiết phải có một cơ sở kiểm nghiệm vững chắc để từ đó có thể đưa ra những quyết định. Các trường hợp ngiên cứu sau đây có thể đóng góp một phần quan trọng của nền tảng đó.
(Tiếp theo chúng ta sẽ đi đến một đề mục rất hấp dẫn đó là Phần 1: Trạng thái tựự nhiên của thiết kếế đô thị và nghành thiết kế đô thị, còn chờ gì nữa các bạn!)

Nhãn:

0 Nhận xét:

Đăng nhận xét

Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]

<< Trang chủ