Nguyễn Hoàng

"...từ trong chính bạn hãy sửa chữa những khuyết tật của dân tộc mình ... Garcia Marque

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2011

CHƯƠNG II: TƯ DUY VỀ THIẾT KẾ ĐÔ THỊ

CHƯƠNG II: TƯ DUY VỀ THIẾT KẾ ĐÔ THỊ
Đối tượng của TKĐT
Sự tác động tới cấu trúc phát triển
Cấu trúc phát triển và đối tượng tương đồng
Thúc đẫy tư duy

Good urban design is rarely brought about by a local authority prescribing physical solutions, or by setting rigid or empirical design standards but by approaches which emphasise design objectives or principles.

Đối tượng của thiết kế đô thị
Những con đường, không gian, những ngôi làng, đô thị và những thành phố hướng đến một đặc tính chung. Những yếu tố đã được phân tích để đưa ra những nguyên tắc hoặc những đối tượng của một thiết kế đô thị tốt. Chúng giúp chúng ta biết làm gì để tạo ra một nơi chốn tốt đẹp. Xem xét sự chồng chéo giữa các đối tượng và tăng cường thêm mối quan hệ tương hỗ giữa chúng.


 * Character: Một nơi chốn với những đặc điểm riêng biệt.
- Tăng cường các đặc điểm trong townscape và cảnh quan bằng cách phản ứng và tăng cường các mô hình địa phương riêng biệt để phát triển cảnh quan và văn hoá.
* Liên tục và ngắt quãng: Một nơi mà các không gian công cộng và riêng tư được phân biệt một cách rõ ràng.
- Thúc đẩy sự liên tục của các street frontages và chấn định các không gian bằng cách phát triển định hình rõ các khu vực công cộng và riêng tư.
* Lĩnh vực công cộng chất lượng cao: Một nơi có sự lôi cuốn và thành công với các khu vực ngoài trời.
- Thúc đẩy các không gian công cộng và các tuyến đường mà có một sự lôi cuốn, an toàn, uncluttered, và hoạt động hiệu quả cho mọi người trong xã hội bao gồm cả người già và người tàn tật.
* Di chuyển dễ dàng: Một nơi dễ dàng đến hoặc đi qua
- Thúc đẩy tính dễ tiếp cận và local permeability bằng cách tạo ra các khu vực kết nối với nhau và dễ dàng đi qua, đặt mọi người vào một tình trạng giao thông thuận tiện và liên hợp thích đáng giữa việc sử dụng đất và nhu cầu vận chuyển.
* Tính dễ đọc: Một nơi có một hình ảnh rõ ràng và dễ hiểu.
- Thúc đẩy tính dễ đọc thông qua các tuyến đường dễ nhận biết, những điểm giao nhau và những landmark giúp mọi người định hướng và tìm đường đi dễ dàng.
* Tính thích nghi: Một nơi có thể thay đổi một cách dễ dàng.
- Thúc đẩy tính dễ thích nghi qua sự phát triển có thể phản ứng lại với những thay đổi của xã hội, công nghệ và điều kiện kinh tế.
* Tính đa dạng: Một nơi có nhiều sự lựa chọn và có sự phát triển
- Thúc đẩy tính đa dạng và lựa chọn thông qua nhiều sự phát triển tương hợp và cùng nhau xây dựng một nơi đáp ứng được nhu cầu của địa phương.

Aspects of development form
* Layout urban structure: The framework of những con đường và những không gian kết nối một cách cục bộ và rộng lớn hơn và cách thức phát triển, những con đường và những không gian mở liên hệ với các đối tượng khác.
Bố trí trong quy hoạch cơ sở phản ánh những tác động đến cấu trúc và mục đích sử dụng mà sự phát triển phụ thuộc vào.
* Layout bản chất đô thị: Các kiểu bố trí các Block đường, các lô đất và các toà nhà trên đó trong một khu ở.
- The degrree to which an area's pattern of blocks and plot subdivisions is respectively small and frequent ( fire grain ) or large and infrequent ( coarse grain ).
* Landscape: Đặc tính và hình thức cuả khu đất bao gồm hình dạng, cấu trúc, ecology, những đặc tính tự nhiên, màu sắc và yếu tố khác, và cách mà các thành phần đó kết hợp với nhau.
- Điều này bao gồm tất cả các không gian mở, bao gồm its planting, đường biên và cách thức sử lý các vấn đề này.
* Density & mix: Sự phát triển tổng thể dựa trên các mảnh đất và sự sắp xếp các mục đích sử dụng. Mật độ ( density ) biểu hiện ( infflueneces) cường độ của sự phát triển, và sự kết hợp giữa các mục đích sử dụng khác nhau có thể ảnh hưởng tới sức sống và khả năng phát triển của khu vực.
- Mức độ phát triển có thể được diễn tả bằng nhiều cách. Think could be in terms of plot ratio ( đặc biệt cho sự phát triển thương mại ), số lượng khu ở hoặc khu phòng ở (cho sự phát triển khu ở ).
* Quy mô chiều cao: Quy mô (scale) là kích thước của toà nhà trong quan hệ với môi trường xung quanh, hoặc kích thước của các phần toà nhà hoặc chi tiết của nó, đặc biệt trong mối quan hệ tới nhân trắc của con người. Chiều cao mặc định trước động của sự phát triển tới tầm nhìn và đường chân trời.
- Height can be expressed in terms of the number of floors, height of parapet or ridge, chiều cao tổng thể, any of these in combination: tỉ lệ chiều cao toà nhà với đường phố hoặc chiều rộng không gian, chiều cao có mối liên hệ đặc biệt với landmarks hoặc background buildings; hoặc atrategic views.
* Scale massing: Tổng hợp sự ảnh hưởng của bố cục, volume và hình dạng của toà nhà với nhóm công trình trong mối quan hệ với các toà nhà trong không gian khác.
- Massing is the three – dimensional expression of the amount of development on a given piece of land.
Apance details:  sự khéo léo, công nghệ xây dựng, phong cách và ánh sáng của toà nhà hoặc cấu trúc.
- Bao gồm các yếu tố của công trình như openings and bays: lối vào hành lang, ban công và roof scape và nhịp điệu của mặt đứng.
* Appearance: Materials – chất liệu, kiểu mã, màu sắc và durability of materials, và cách chúng được sử dụng.
- Sự phong phú của toà nhà nằm ở việc sử dụng các vật liệu góp phần lôi cuốn trong diện mạo và đặc tính của một khu vực.
   Đối tượng của thiết kế, bản thân chúng là trừu tượng. They have an impact on people's lives only by being translate dinto development. Cấu trúc toà nhà, kết cấu, và không gian là sự biểu hiện vật chất của thiết kế đô thị. Những gì phản ánh kiểu mẫu sử dụng, hoạt động và di chuyển trong một khu vực và là trải nghiệm cho những ai  viếng thăm, sống hoặc làm việc ở đó. Hướng dẫn này đưa ra những đặc tính quan trọng nhất của cấu trúc vật chất của sự phát triển thông qua sự hợp nhất của 8 khía cạnh. Cùng với nhau chúng định hình sự lắp đặt chung ( overall layout ) của khu vực. ( in terms of its rontes aand building ); quy mô của nó ( in term of building height and massing ) hình thước của nó ( như  đã diễn tả trong chi tiết và việc sử dụng vật liệu ) và cảnh quan của nó ( bao gồm tất cả lĩn vực công cộng, xây dựng, và không gian xanh ).
    Đối tượng và hình thái sự phát triển đi đồng hành cùng nhau. Hiệu quả của thiết kế chính sách và thiết kế định hướng đặt trọng tâm vào việc là sao cho những bối cảnh cụ thể cấu trúc phát triển có thể đạt được các đối tượng của thiết kế đô thị.
    Danh sách các đối tượng và các aspects của cấu trúc đã được giới thiệu một cách trật tự to acourage writers of policy and guidance và những người ra quyết định ( decission – makers ) đặt ra một loạt những câu hỏi mà đi đến chiều sâu hơn sự khái quát ban đầu. Những câu hỏi liên quan đến cả đối tượng thiết kế đô thị lẫn những ảnh hưởng của cấu trúc phát triển. Ví dụ: bố cục của dạng cấu trúc nào có thể đạt tới các đối tượng đặc biệt trong bối cảnh này, quy mô nào? và cứ tiếp tục ( and so on ) phụ thuộc vào điều gì cần được xem xét một cách thích đáng. Hướng dẫn dựa trên một hệ thống tư duy như vậy sẽ giúp các nhà phát triển và các nhà thiết kế bằng cách moving beyond những sự thúc đẩy giản đơn vậy, ví dụ: sự phát triển mới nên có những đặc tính riêng hơn nữa.
         
Thúc đẩy tư duy.
Những đối tượng nghiên cứu mang tính chất chung nên cần phải được tairrored với bối cảnh địa phương. Tiến trình này được hỗ trợ bởi một loạt các tiền đề suy nghĩ về thiết kế đô thị được vạch ra trong chương sau. Sự thúc đẩy được unfoded dưới mỗi chủ đề nghiên cứu thiết kế đô thị, chúng có mối liên hệ chặt trẽ nhưng không đồng nhất với đối tượng mà chúng xuất hiện dưới đó.
   Quan trọng nhất chúng là những prompts không phải là rigid formulate để đi theo như một sự lệ thuộc.
   ở những trường hợp đặc biệt, vài promts sẽ conflict và có ích với người này hơn với người khác. Good design ressults from consideraiton being given to a wide range of concerns and the creative resolution of potential confflicts. Ví dụ, chiều cao công trình cần thiết phải ánh được với kiểu mẫu công trình chung vì ba vấn đề không hơn ba vấn đề khả năng đáp ứng một mật độ phát triển cao để tạo ra phương tiện vận tải công cộng tốt nhất, và creating vitality ( tạo ra khả năng phát triển ) về giá trị của việc tạo ra một landmark đối với hiệu quả ( enhance views ) về sự cần thiết đối với một sense of enelosure, to the opportunity to enhance safety by nature suweilance, and to the neeed to avoid overshadowing.
   Mỗi khi chủ đề chỉ ra một chiều cao khác nhau cho mỗi toà nhà. Nếu chúng được xem xét một cách độc lập. Trong thế giới trực thuộc, quy hoạch và thiết kế phải giải quyết một vấn đề của tổng hợp tất cả các khía cạnh. Điều này phụ thuộc vào. thứ nhất là xem xét xem mức độ quan trọng như thế nào của mỗi vấn đề trong các trường hợp khác nhau, thứ hai, kỹ năng thiết kế of rising imaginatively the demands of a difficult brief.

Character:  a place with its own identity
Những đặc tính có thể có của một nơi chốn, và sự đóng góp của con người đối với các đặc điểm đặc biệt của nó và cảm giác về sự thống nhất. Chúng bao hàm cảnh quan cây xanh, các toà nhà truyền thống và vật liệu, các lối sống, và các yếu tố khác mà tạo ra một nơi mà mọi người có thể appreciate dễ dàng.

Rất nhiều nơi ta có thể suy nghĩ về nó như một điểm đặc biệt trong hiện tại dễ chịu, tăng trưởng tự nhiên phản ánh lại hoàn cảnh của địa phương. Nơi mà những đặc điểm đặc biệt bị bỏ qua, sự phát triển mới có lẽ chỉ ảnh hưởng (reflect) đến marketing policies or corporate identities of national and international companies, những tiêu chuẩn thực hành và những sản phẩm của nhà công nghiệp hoặc những thời trang mới nhất trong nghề thiết kế. Sự phát triển mà phản ứng lại với khu đất xây dựng và cơ cấu của nó, mặt khác, tạo ra một nơi chốn có giá trị thừa nhận và ưa nhìn.

Thiết kế cho một đặc tính địa phương bao gồm sự sáng tạo thống nhất với sự thực hành địa phương, một mặt khác, với những công nghệ mới nhất,  thể loại công trình, và nhu cầu sử dụng ở một mặt khác.

Một nơi không có ý nghĩa về truyền thống địa phương, cơ hội tạo ra một nơi đặc biệt. Không có lý do tại sao đặc tính và sự sáng tạo lại không đi cùng nhau. Những ngôi nhà mới hoặc cũ có thể cùng tồn tại hạnh phúc mà không thấy ghê sợ lẫn nhau, nên thiết kế mới là sự phản ánh về đối tượng và đặc tính của thiết kế đô thị.

Xem xét cấu trúc và đặc tính của  khu đất xây dựng khi hoạch định sự phát triển mới.
* Hình dạng 3 chiều của cảnh quan là cơ bản cho một cấu trúc phát triển (expressed in it's layout and massing). Những đặc tính tự nhiên có thể giúp đưa ra hình dạng của sự phát triển và hoà hợp trong một vòng rộng lớn, đóng góp vào cảm quan của khu vực.
* Bảo vệ các đặc tính tự nhiên của khu đất xây dựng đưa ra để đạt được mối quan hệ tốt giữa sự phát triển mới và môi trường của nó. Những đặc tính tự nhiên bao gồm những dòng sông  và streams. đầm lầy, ponds, và những hồ, những ngọn đồi, cây, cuộc sống hoang dã và rocjk outcrops.
* Tập quán xã hội địa phương giúp định trước đặc tính và sự thống nhất cả về sự phát triển lẫn nơi mà nó đóng vai trò là một phần trong đó.

Sự hoà nhập của sự phát triển mới vào bố cục cảnh quan của nó giảm thiểu tác động đến môi trường tự nhiên và reinforces cá đặc tính địa phương.
* Bố cục, massing và thiết kế cảnh quan cho sự phát triển mới có thể hoà nhập một cách thành công với cảnh quan chung thông qua việc sử dụng struture planting, shelter belts, green wedges (theo những đặc điểm tự nhiên, những con đường, dòng sông và những con kênh) , và green corridors (hành lang cây xanh).
* Reflecting plant species that are common locally will hefp planting in new development to reinforce the distinct natural qualities of a place.
* Hoà hợp giữa sự phát triển mới và những gì đang tồn tại chính đường biên của chúng sẽ duy trì sự liên tục của cấu trúc đô thị và cảnh quan.

Ressponding với bố cục hiện trạng của các toà nhà, những con đường và những không gian đảm bảo về sự liên hệ của các toà nhà kế cận nhau, những con đường kết nối nhau và những không gian thì bổ xung cho nhau.
* Bố cục hiện trạng phản ánh lịch sử của nó, về chức năng và liên kết với adjoining arreas. Chúng có thể đóng góp vào sự thú vị và phong phú cho sự phát triển mới, và vào khả năng của nó trong việc thích nghi hơn với sự thay đổi trong tương lai.
* Hoà nhập của công trình vào cấu trúc hiện tại với sự phát triển mới có thể duy trì sự liên tục của kết cấu xây dựng cũng như bảo lưu các công trình mang đặc tính lịch sử địa phương hoặc giá trị không gian đô thị (townscape )
* Những lô đất xếp hàng thúc đẩy hoạt động của khu vực trước nhà (more active frontages) tăng cảm quan về các hàng rào thoáng và cho phép một mật độ cao, chúng chiếm một phần đặc biệt nơi mà chúng phản ánh các kiểu mẫu định cư đã từng tồn tại.

Phản ứng lại với những cấu trúc công trình địa phương và các kiểu mẫu vì sự phát triển trong bố trí  các chi tiết và sự thiết kế giữ gìn  giữ cảnh quan của khu vực.
* Chi tiết và cấu trúc của các công trình địa phương góp phần vào chất lượng đặc sắc của khu vực. Chúng có thể giải thích thoả đáng trong sự phát triển  mới mà không cần thiết hạn chế phạm vi của nhà thiết kế. Các tiêu chuẩn giải quyết vấn đề này thường được chấp nhận vì chúng không giống như việc tạo ra đặc tính riêng biệt hoặc tạo ra sự thích dụng cho các vị trí xây dựng đặc biệt.
* Cấu trúc các công trình địa phương đôi khi bao gồm cả những thể loại nhà đặc biệt, boundarry treatments, building lines, roof slopes, các kiểu cửa và ngoại thất vườn.

* Phản ứng lại với những cấu trúc và những thuộc hình như vậy chỉ nên ở một quy mô thích đáng. Việc thực hành chung việc tự mãn với những cấu trúc truyền thống trong nước với một quy mô rộng lớn thường nên tránh.

Sử dụng những vật liệu địa phương, phương pháp xây dựng và những chi tiết là những yếu tố chủ đạo trong việc đề cao những đặc tính địa phương.
* Tỉ lệ, chất liệu và mầu sắc của vật liệu của công trình phản ánh công năng và đặc điểm riêng cho khu vực, bao gồm điêu khắc (sculpture), ánh sáng lan can (railings), litter bins, paving, đài phun nước (fontains)  và street furniture.
* Sự phát triển có thể đẩy mạnh (enhanxed) bằng cách phản ánh lại nghệ thuật bản địa và ngành nghề truyền thống (ironwark, stained glass, thatching, brickwork, masonry, walling và paving). Chúng không nên được thêm  vào hoặc theo sau, mà chúng phải là một phần của thiết kế từ bước khởi đầu.

Quy mô massing và chiều cao dự kiến nên được xem xét trong mối quan hệ với công trình kế cận, the to poyraphy, chiều cao chung trong khu vực, các tầm nhìn, vitas và landmarks.
* Mối quan hệ của sự phát triển mới tới các kiểu mẫu cao độ trong công trình chung không nên loại trừ mức độ khác nhau đối với việc phản ánh hoàn cảnh địa phương. Đặc điểm của không gian đô thị ( townscape ) phụ thuộc vào những công trình riêng lẻ đóng góp vào sự hài hoà tổng thể chung như thế nào, thông qua quy mô chung của các công trình lân cận và việc tạo ra một  cấu trúc đô thị liên tục.
* Trên các vị trí xây dựng theo chiều dốc những toà nhà toạ lạc trên mặt đất và bước lên trên triền đồi đóng góp nhiều hơn đối với đặc tính địa phương và avoid blank walls at ground level hơn là những phiến đá nguyên khối bỏ qua điều kiện địa hình.
* Mức độ phát triển góp phần tạo ra đặc điểm cuối đường chân trời của thành phố, đô thị, và những ngôi làng, or tôn trọng đường chân trời đang tồn tại. Đặc điểm của một đường chân trời là tổng hoà của một số các block và hình dạng của mái nhà, cũng như chiều cao của công trình. Một toà nhà chỉ nên đứng ngoài khối background của những toà nhà  nếu nó đóng góp vào các khung cảnh và vistas như một candmark. Building which have funtion of civic importance are one example.

Continuty and enclosure:
A place where public and private spaces are clearly distinguished

Sự phát triển hoặc đóng góp vào việc tạo ra sự gắn kết các công trình đô thị hoặc là phá huỷ nó. Thiết kế đô thị thường là sự lựa chọn những bút pháp tốt, nhìn nhận rằng mỗi toà nhà là một phần của một tổng thể lớn. Rất nhiều nơi đã được thắp sáng ánh sáng của sự phát triển, thậm chí nếu thiết kế của nó có một giá trị được nhìn nhận trong một sự cô lập, phớt lờ đi cấu trúc đô thị địa phương của nó và creates bits of lefftover space that contubube nothing to the living village, town or city.

Một không gian đô thị thành công ( bao gồm cả không gian đường phố) được địa hình và enclosed bởi các toà nhà, những công trình xây dựng và cảnh quan. Mối quan hệ giữa các toà nhà trên đường, và giữa công trình đường phố là chìa khoá của vấn đề này. Những toà nhà theo sau những continuons building line xung quanh một block đường và chứa đựng những không gian riêng từ trong các back yard hoặc courtyards thường thành công hơn những toà nhà riêng lẻ đứng trên một khu đất riêng biệt. Những toà nhà với live edges, như shopfront, những cửa đi hướng thẳng ra đường, hoặc khu ở đưa lên những tầng trên cao, cho phép người ta có thể hướng tầm mắt ra không gian công cộng và tạo ra một cảm giác an toàn.

Những toà nhà liên hệ với common building line reigforce và định hình đường phố.
* Sự phát triển theo đường biên của street block có thể tạo ra một đặc điểm rõ ràng giữa không gian công cộng và riêng tư. Có liên quan tới lịch sử hoặc building line truyền thống giúp làm hoà nhập sự phát triển mới, và khung cảnh đường phố, gìn giữ sự liên lạc của các công trình đô thị và tránh xa những nơi concealment.
* Mặt tiền nhà trên dãy phố rất ít những khoảng tầng trống và những khe hở giữa các toà nhà. Khoảng trống giữa các toà nhà giảm đi cảm giác bị khoá chặt trên đường phố, cũng nhe những mảng trống ( which also enronrage graffiti ). Có nhiều nơi, tuy nhiên, tuy nhiên như một vài village nơi những building line không có những điểm lấn át khung cảnh đường phố.
* Lập kế hoạch và sự giật lùi vào cách khỏi building line ( chỉ giới đường đó ), như một ô trống và lối vào được tăng giá trị nhấn mạnh không làm phá bỏ nguyên tắc sự liên tục.
* Nơi mà công trình giật lùi lại khỏi công trình chung, nó có thể tạo ra một sự thích dụng, không gian lôi cuốn hơn đối với những người đi bộ.
* Khoảng giật lùi nho nhỏ có thể thường xuyên được sử dụng khi công trình tương tác với không gian công cộng.

Lối tiếp cận chính đến công trình có thể đạt hiệu quả cao nhất từ đường phố.
* Lối vào của công trình có thể nhận ra một cách rõ ràng đóng góp vào sự hiểu biết công trình một cách rõ ràng sự hiểu và cảm nhận được hết công trình thường đạt được với những không gian mở liên tục đem lại một cảm giác dễ chịu, đặc biệt đối với người thụ hưởng không gian kiến trúc nội thất.
* Lối vào là nơi mọi người có thể di chuyển giữa không gian công cộng và không gian giàu riêng biệt và tạo ra activity trên đường phố.
* Tiếp cận thẳng ra đường phố từ tầng hầm premises ( both housing and shops ), rabther than by way of communal entraces, can reduce the length of blank facades.
* Lối tiếp cận chính tới công trình bằng phương tiện internal courtyards làm giảm street activity và live connection giữa công trình và đường phố.
* Tiếp cận tới sân sau công cộng hoặc riêng biệt, như để đậu xe, yêu cầu phải được điều khiển cẩn thận bằng các phương tiện như cổng trào hoặc overlooking.


Đằng trước và đằng sau của công trình thường được sử dụng nhiều cách khác nhau và thiết kế của nó phải phản ánh được điều đó.
* Thiết kế bố trí ít các phòng riêng quay ra mặt đường, đặc biệt là ở tầng hầm, có nghĩa là mặt tiền nhà có thể liên hệ trực tiếp với đường phố.
* Thiết kế nhiều phòng riêng như phòng ngủ và phòng tắm mặt trước làm giảm tầm nhìn ra đường và có chiều hướng phá hỏng khu vực mặt tiền nhà.
* Những công trình phô bày mặt sau ra không gian công cộng ( thậm chí cả những đường chính ) thường song song với những bức tường và những hàng rào cao ra đường, làm giảm tầm nhìn và mức độ an toàn. A separate bonlevard – type slip road is a way ofenabling building to front onto mains roads where aceess is restrited.

Định rõ và enclosing không gian riêng tư ở mặt sau của công trình đem lại tính chất riêng tư và an ninh cao hơn.
* Sân sau hoặc sân giữa là không gian chung hoặc riêng tốt nhất phải được enclosed bởi đằng sau của các công trình.
* Vườn sau của nhà ở an toàn hơn nữa dựa lưng vào một cái vườn khác, hơn là dựa lưng vào sicle roads, service lanes or footpath.
* Nơi mà không gian chung ( không phải không gian công cộng ) được bố trí ở sân trong của một nơi phát triển nhà ở với mật độ cao, sự riêng tư của các phòng dưới tầng hầm có thể được bảo vệ bởi khu sân vườn hoặc khu riêng biệt. Chúng cần phải được định rõ bằng tường hoặc các boundary treatment khác.

Sự phát triển có thể định dạng những con đường và những không gian công cộng.
* Con đường, những quảng trường, công viên và những không gian khác có thể được định hình một cách tương đối bởi tương quan với công trình và cây xanh. Chiều cao của công trình liên nên liên hệ với chiều rộng và mức độ quan trọng của không gian ( bao gồm cả đường phố ) mà chúng enclose. Quy mô và chiều cao của công trình cũng phải lưu ý tới mức độ mà chúng sẽ overlook và overshadow với công trình khác.
* Công trình toạ lạc tại một góc của tuyến đường có thể turrn and close the corrner visually. Những toà nhà không có chiều sâu (shallower building depths ) có thể được sử dụng tại góc của các tuyến đường, cho phép ánh sáng mặt trời và ban ngáy thâm nhập vào mà không làm ngắt quãng tuyến liên tục của công trình ( continuons building line ) vòng quanh chu vi của block. Sự lơi lỏng các tiêu chuẩn ( for minimum garden side và back - to – gable distance ) có thể almf giảm hoặc thậm chí giảm trừ các khoảng trống và các bức tường trống khi mà houssing turns the corner. Điều này cũng sẽ làm gia tăng sự riêng tư về sau này.
* Sự lùi lại của các tầng bên trên làm giảm đi ảnh hưởng của công trình tới cấp độ đường phố. Setting back can result in over – clenerlopement and block light.

Xác định mối quan hệ giữa mặt trên các công trình với đường phố giúp ích cho các mục đích sử dụng riêng biệt của chúng.
*Định rõ không gian xung quanh thuộc sở hữu riêng của mỗi công trình ( bằng các phương tiện như tường bao, hàng rào, tay vịn, cổng trào, vòm cuốn, ký hiệu và paving ) để định rõ không gian công cộng và không gian riêng tư.
*Detailed design can make clear whether ambiguous spaces (such as forecourts, malls, arcades and
covered streets) are public or private.

Quality of the public realm:
a place with attractive and successful outdoor areas

Một nơi với khu vực ngoài trời đầy lôi cuốn và thành đạt.
Sự thành công của khu vực công cộng phụ thuộc vào bố trí của hè đường, cây xanh, ánh sáng, định hướng, shelter, street furmiture, và cách giám sát đối với chúng cũng như những tuyến đường đi qua và cách người ta sử dụng chúng.

Khu vực công cộng là một phần của ngôi làng, một đô thị, một thành phố, nếu không có gì đặc biệt nó dành cho tất cả mọi người, bao gồm cả những con đường, những công viên, quảng trường, arrcades và những công trình công cộng. Nó được bố cục không  chỉ cho tất cả mọi ngưới mà còn cho quyền lợi của mỗi công dân hơn nữa. Nó phải được làm rộng rãi và được làm giàu các thiết kế sáng tạo chi một sự chào đón một số lượng lớn người sử dụng và bằng việc tạo ra một sự management. Nó được restricted và impoverished bởi việc thiết kế các công trình và các không gian to keeep out or disconrage all but a narrrow range of users, and by over regulation. Bất cứ ai thiết kế một công trình hoặc một cấu trúc nào đó đều góp phần tạo nên hình dáng của public realm.

Những không gian công cộng có một sự lôi cuốn như thế nào, cách con người cư xử ra sao?, sẽ phụ thuộc một phần vào sự sắp đặt và việc quản lý nó và duy trì việc đó như thế nào.

Một khu vực thành công với hệ thống không gian mở, xanh phản ánh những đặc tính của tự nhiên và dễ tiếp cận.
* Những không gian có thế thiết kế để tạo thành các thể loại không gian khác nhau ( lối đi, con đường, quảng trường công cộng, công viên, plaza, thảm cỏ – green ) với các đặc tính khác nhau. ( informal, eivic, reereational, thương mại ) và tỉ lệ không gian, còn hơn là một phần của khu vực nhưng không để làm gì cả. Diện mạo của không gian công cộng nên phản ánh lại sự cần thiết được thiết lập bởi các kiểu mẫu kinh tế, xã hội và văn hoá sống của địa phương.
* Một không gian công cộng được thiết kế tốt có chức năng là một phần của mạng lưới những tuyến đường dành cho người đi bộ, dành cho nhu cầu của người khác nhau bao gồm cả người tàn tật và người già.
* Nhưng con đường những điểm giao giữa những con đường phải được thiết kế như một không gian công cộng ( hơn là chỉ như một tuyến giao thông tiện nghi cho tất cả mọi người.
* Cây xanh đường phố và đèn đường có thể reinforce đặc tính và mối quan hệ liên tính của một con đường.
 * Sử dụng các yếu tố tự nhiên như nước, hai bên bờ sông slopes, cây xanh và các planting khác giúp tạo ra một sự lôi cuốn và encourage biodiversity.

Tầng hầm được sử dụng và có liên hệ trực tiếp tới người đi bộ tạo ra một sự sinh động và thú vị.
* Mặt tiền có thể làm sinh động bởi các dạng sủ dụng khác nhau (như cửa hàng và nhà hàng ), sảnh vào, hàng cột và cửa sổ ( tầm nhìn tới công trình tạo ra một sự thú vị cho người đi bộ ngang qua và tạo cho mình một sự rõ ràng về công năng biểu hiện qua hình thức kiến trúc trong khi tầm nhìn từ trong ra rất thuận tiện cho việc giám sát, đóng phần tăng tính tích cực an toàn.
* Sự riêng tư dành cho sự phát triển nhà ở dưới tầng hầm trên các đường phố ồn ào có thể được duy trì bằng cách đưa lên các tầng hầm bên trên. Đường rào được bố trí ở một khoảng nghỉ thường xuyên giúp tạo ra một sự an toàn trong hoạt động.
* Street entrances at frequent intervals help to ensure activity.
* Công trình trên một góc đường đông đúc được thiết kế phù hợp với nhà hàng, cửa hàng và những hoạt động tương tự có thể đóng góp tạo ra những hoạt động những đặc tính đặc trưng địa phương.

Không gian công cộng được thiết kế tốt với sự liên hệ tới các công trình ung quanh nó.
* Không gian công cộng phải được thiết kế với một ý định từ trước. Không gian để lại sau sự phát triển, bỏ qua công năng, là sự lãng phí các nguồn lực và sẽ lấy đi cảm quan không gian về đặc tính riêng. Nó giống như việc lạm dụng và phá hoại, giảm đi sự an toàn và an ninh.

Đường phố và các không gian được theo dõi cho phép giám sát một cách tự nhiên, cảm giác an toàn.
* Các thể loại công trình mà có mặt tiền hướng ra đường và quảng trường hoặc công viên, contribute to overlooking by showing their public face.
* Phân chia lối đi bộ và đường đi xe một cách rõ ràng giúp dễ theo dõi và giúp tránh những nơi mà người ta đi bộ và đi xe cảm giác không an toàn.
* Có lợi cho các khu ăn chơi giải trí, không gian chung khác và khu vực đậu xe được theo dõi.
* Living over shops khuyến khích giám sát tự nhiên và hoạt động về đêm.
* ánh sáng và cây xanh ( planting ) có thể giúp hoặc cản trở việc giám sát và cảm quan về sự an toàn.

Thiết kế không gian công cộng có tính đến điều kiện vi khí hậu
* Thiết kế không gian công cộng có tính đến điều kiện khí hậu địa phương, bao gồm ánh sáng ban ngày, ánh sáng mặt trời, gió, nhiệt độ và frost pockets.
* Vi khí hậu sẽ ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng bởi cấu trúc phát triển, bao gồm hướng của công trình và mức độ khép kín ( clegree of enclosure )
* Không gian công cộng nên được bảo vệ bởi clown – draughts bởi các công trình cao tầng, as well as from lateral wwinds.
* Những cây xanh theo mùa và những cây leo có thể bù nhiệt và ô nhiễm trong mùa hè và cho phép lou winter sunlight.

Thiết kế các thiết bị đường phố một cách nghệ thuật hoà vào thiết kế của không gian công cộng đem lại một đặc tính riêng và cảm quan cho khu vực.
* Phối hợp thiết kế streetscape tránh clutter  và confusion. Bao gồm mọi yếu tố của trên cảnh quan đường phố đường phố như biến chỉ dẫn ánh sáng, lan can, thùng rác, vỉa hè, ghế ngồi, chờ xe bus, trạm dẫn nước cứu hoả, kiôt, cycle rack cũng như các điều khắc trang trí và đài phun nước.
* Không gian đường phố phản ánh được tính đoán đến sự cần thiết cho việc duy trì, chống lại sự phá hoại và có thể tiếp cận tới khu vực kỹ thuật ngầm.
* Công việc của các nghệ sỹ sáng tác phải được tham gia vào quá trình thiết kế ở một giai đoạn sớm nhất có thể nếu muốn công năng về sau được hiệu quả.
* Thiết bị đường phố như benches và nhà chờ xe bus nên được đặt ở một nơi có cảm giác an toàn cho người sử dụng.

Ease of movement:
A place that is easy to get to and move through

Một nơi dễ đến và dễ đi.
Sự thuận tiện, an toàn và tiện nghi nơi mà con người đến và qua các công trình, những nơi chốn và những không gian đóng góp một phần trong việc định ra một khu vực thành công sẽ như thế nào. Những con đường không chỉ là kênh giao thông cho các phương tiện đi lại, và còn yêu cầu một môi trường an toàn và lôi cuốn. Một thiết kế tốt khuyến khích mọi người sử dụng chúng, tạo ra một khu vực ngoài trời an toàn và một sự trải nghiệm thích thú.

 Một cấu trúc đô thị tốt được thiết kế một mạng lưới kết nối liên hoàn giữa các không gian và các tuyến đường cho người đi bộ, đi xe đạp và các loại xe cơ giới.
* Những tuyến đường mới nên kết nối với những tuyến đường đã tồn tại và monementpattern mức độ kết nối trong sự phát triển mới thường là chìa khoá cho sự thành công. Thiết lập đường đi bộ, shortcuts và minor road có thể chở thành basic of  enduring rinkages.
* Phương tiện giao thông công cộng ( puplic trasport ) nên được thiết kế như một phần hoà nhập vào bố cục đường phố ( streetlayont )
* Khoảng cách đi bôk tối thiểu giữa khu đất xây dựng và điểm dừng của phương tiện giao thông công cộng tạo cho phương tiện dễ dàng sử dụng hơn và phục vụ được cho nhiều người .
* Giao tuyến đường có thể được thiết kế như một point of entry, một giao tuyến như vậy có thể giúp tạo đặc tính khu vực và xác định các tuyến đường băng qua.
* Transport routes nên phản ánh được chất lượng vấn đề  đô thị và không chỉ quan tâm mỗi vấn đề về giao thông.
* Đường phố nên tự thiết kế như những không gian công cộng chứ không nên xem xét chỉ trong góc độ xây dựng.
* Boulevard là phương tiện tạo ra continuons frontage phát triển và đưa ra một mức độ cao về traffic capacity.
* Cấu trúc truyền thống của height street cho phép dừng lại, đậu xe và di chuyển từ từ, đem lại phương thức hiệu quả thích nghi giữa cửa hàng địa phương và các hoạt động kinh tế.

Sự phát triển về sự tiếp cận và lưu thông góp phần tạo ra một mạng lưới trơn tru (fine – grain network ) về định hướng và kết nối giữa các tuyến đường bên trong và bên ngoài khu vực hơn là tạo ra các big – block.
* Sự tắc nghẽn của những con đường (grain street) thường gặp ở những cửa hàng trên những con đường đông đúc.
* Các con đường kết nối với những con đường khác, khuyến khích sự di chuyển và hoạt động và các con đường gần gũi nhau (short linked up), tạo cho khu vực dễ dàng tiếp cận hơn, khuyến  khích đi bộ và đi xe đạp.
* Trong việc thiết kế quan tâm đến những con đường kết nối nhau nên được làm để tránh sự phá huỷ " deffensible – space" (có thể bảo vệ được) của các khu láng giềng đặc biệt.
Cách thức phát triển được sắp đặt có thể khuyến khích tốc độ giao thông thấp.
* Sự phát triển nên được thiết kế với sự quan tâm tới hiệu quả của nó trong việc giảm tốc độ giao thông.
* Tốc độ giao thông có thể được điều khiển được bằng sự thiết lập các công trình và các không gian. Sự đo lường physical traffic – calming nên là thứ yếu nhưng phải được xem xét như là một phần của thiết kế.
* Thay đổi vật liệu hoặc "gateway" ở lối vào khu vực giảm tốc độ để cảnh bảo người điều khiển phương tiện giảm tốc độ.
* Bán kính góc đường nhỏ sẽ khuyến khích các phương tiện di chuyển cẩn thận hơn.

Sự sắp đặt và mật độ phát triển có thể giúp gia tăng sự tiếp cận tới các phương tiện giao thông công cộng: sự phát triển ở mật độ cao thúc đẩy việc sử dụng giao thông công cộng.
* Việc kết hợp các phương tiện vận chuyển lại với nhau ( integrated trassport interchanges ) thúc đẩy việc sử dụng các phương tiện vận chuyển công cộng và tạo ra một sự liên tục ( seamless ).
* Khu vực thương mại với mật độ cao và các sự phát triển đa chức năng  ( mix – use developments ) toà nhà chung cư với một số lượng lớn người lui tới nên nằm  ở một nơi tốt nhất cho việc đi bộ tới nơi có phương tiện giao thông công cộng trung chuyển.
* Nhà ga được thiết kế như một phần của lĩnh vực công cộng tạo ra một sự an toàn và môi trường an ninh cho người đi bộ ở mọi thời gian trong ngày.

Legibility
A place that has a clear image and is easy to understand

Một nơi có hình ảnh rõ ràng và dễ hiểu.

Tượng đài ( landmark ) cổng trào, và các điểm tập trung ( focal point ) giúp mọi người tìm ra lối đi cho mình. Viễn cảnh tạo ra visual links giữa các khu vực. Cây xanh có thể nhấn mạnh những tuyến đường rõ ràng và nơi đi tới, vì sự lựa chọn dễ dàng tìm thấy tạo ra một nơi có cảm giác an toàn mà không bị đe doạ. Một nơi mà cấu trúc, bố cục và ánh sáng hiện rõ ràng và dễ hiểu cả về công năng lẫn sự làm hài lòng để sống hay qua lại.

Equally, vài nơi khác tạo ra sức quyến rũ từ sự thiếu vắng các con đường rõ ràng. Tiến trình thiết kế cần tính đến một thực tế rằng mọi người không phải ai cũng đoán trước được, giải thích và thưởng thức theo cách giống nhau. Đàn ông và phụ nữ, trẻ con và người già, người địa phương và khách vãng lai, thanh niên và trung niên, những người từ các nền văn hoá khác nhau sẽ chiêm nghiệm theo cách khác nhau và được khuyến khích cảm nhận theo chiều sâu góc độ khác nhau.
Sự phát triển được đặt như vậy làm tăng thêm các khung cảnh về những viễn cảnh sẵn có và tạo ra những cái mới có thể giúp con người tìm ra hướng đi cho mình.
* Khả năng nhìn nhận những tuyến đường quan trọng và những landmark có thể là toàn bộ quá trình tìm kiếm đường đi và tăng cường cảm quan của khu vực.
* Bất cứ nơi nào có thể nhìn nếu đặt trọng tâm vào những tuyến đường quan trọng, những công trình đáng nhớ và những đặc điểm về cảnh quan.
* Cảm quan của khu vực phụ thuộc vào thiết kế của lĩnh vực công cộng và đóng góp của nó vào đặc tính và đặc điểm riêng của khu vực.Bespoke design can help, not least of street furniture.
Thiết kế, vị trí và công năng của công trình có thể gia tăng được tính và đặc điểm của những con đường, những không gian mà chúng tham gia vào.
* Tập trung nhiều hoạt động khác nhau vào những con đường chính và xung quanh các focal points góp phần tạo ra hình ảnh đầy sức sống cho khu vực.
* Công dân và những community building, toạ lạc xung quanh quảng trường công cộng, mang lại đặc thương về một symbol of community và trọng tâm của các cuộc sống dân sinh ( focus for civic life ).
* Chắc chắn rằng những công năng của công trình trông thật dễ nhận biết đối với người đi qua và lối vào chính dễ xác định đóng góp vào vấn đề tạo thành một khu vực dễ hiểu.

Những góc đường được thiết kế tăng thêm sự rõ ràng bằng cách tạo ra các visual interest và góp phần vào những đặc tính đặc trưng.
* Những toà nhà ở góc đường có thể đem lại đặc tính và là những điểm định hướng. Làm cho chúng cao hơn lên so với các toà nhà xung quanh sẽ nhấn mạnh tầm quan trọng của chúng.
* Vị trí của những nhu cầu sử dụng công cộng như các cửa hàng trên những góc của những con đường đông đúc gia tăng sự hoạt náo và những đặc điểm địa phương.

Sự rõ ràng của một khu vực có thể được thúc đẩy thông qua chi tiết và chất lượng của các vật liệu trong sự phát triển mới.
* Thiết kế rõ ràng thường phụ thuộc vào mức độ chú tâm vào chi tiết, ví dụ về những mặt tiền cửa hàng và lối vào công trình.
* Chi tiết phong phú là điều rất quan trọng ở tầng một, nơi con người nhìn thấy cận cảnh và trong tầm tay với.
* Lựa chọn vật liệu tốt tạo thêm sự thích thú và sự rõ ràng. Sự đa dạng của các vật liệu tự nhiên cần có chất lượng về chất liệu và sự đồng bộ.

Sự thích nghi
A place that can change easily

Một nơi dễ dàng thay đổi

Những khu vực thành công nhất đã và vẫn thịnh vượng trong mọi hoàn cảnh thay đổi. Thậm chí con người sống, du lịch, làm việc theo nhiều cachs khác nhau, cấu trúc cơ bản của kết cấu vật có thể ở một nơi như vậy minh chứng cho sự dựa vào các kiểu mẫu bất biến trong cuộc sống con người. Hơn là cố hết sức vào một vài mục đích không thay đổi nào đó. Một nơi thành công phải tránh xa sự tổn thương do sụ lụi tàn, bỏ rơi trên mộ quy mô rộng lớn, và các dạng tái thiết toàn diện với một loạt các mục đích (serrnes a narrowly – defined range of purposes ).

Một nơi phải thích nghi ở mọi cấp độ. Sự biến đổi của gia đình phụ thuộc vào ngôi nhà, những đứa trẻ sinh ra và lớn lên. Đô thị và thành phố như một thực thể phải thích nghi với việc sụt giảm và gia tăng công nghiệp, yêu cầu về nhà ở, nơi làm việc, công trình xây dựng và cơ sở hạ tầng.
Những công trình khoẻ khoắn không thiết kế chặt chẽ cho một mục đích sử dụng trong tương lai.
* Chiều cao từ nền tới trần và chiều sâu công trình nên được xem xét dựa trên sự cần thiết về tính linh hoạt để đạt được công năng tối ưu cho công trình.
* Tầng hầm linh hoạt ở góc đường phố đông đúc cho phép các sử dụng khác nhau thích hợp qua nhiều giai đoạn thời gian.
* Một toà nhà được thiết kế tốt là phải thích nghi với sự thay đổi nhu cầu về vai trò của nó.
 Những nơi được sử dụng cho nhiều hoạt động khác nhau
* Một không gian công cộng được thiết kế tốt cho phép nhiều mục đích sử dụng khác nhau những sự kiện, lễ hội và hội chợ.
* Sự phát triển có thể liên hệ với khu vực công cộng theo cách khuyến khích hơn là giảm bớt sự linh hoạt về công năng của những không gian và những công trình đó.
* Điều này có thể được thông qua việc sử dụng những yếu tố như sân trời, ban công, và forecounts.
* Khuyến khích sự linh hoạt của các công trình có thể được thiết kế  để tạo ra một sự  bố trí thích ứng dễ dàng faciletate different acess arangement ) tại nhiều thời điểm.

Sự phát triển duy trì sự linh hoạt trong thiết kế và bố cục
* Sự phát triển tuần tự dễ dàng thích nghi hơn những siêu cấu trúc hoá.
* Những con đường trong dự án xây dựng tuân theo các tiêu chuẩn, hơn là bị khoá vào estate management agrrements ( kiềm chế sự thay đổi ), cho phép nhiều hình thức sử dụng khác nhau và phát triển qua thời gian.
* Sự bố trí hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ dự án ( bao gồm hệ thống cấp nước, sewerage, drainage, gas, điện, cáp, điện thoại, đường, đường đi bộ, đường đi xe đạp và công viên ) tính đến những biến đổi có thể thấy trước trong đòi hỏi.
* ý nghĩa của xây dựng công trình là suy nghĩ về tính năng trong tương lai, mở rộng hay thay đổi mục đích. Ví dụ đặc điểm sự biến chuyển sau này của công trình là phươn tiện giải quyết cho vị trí xây dựng tốt hơn ( the location of means of escape can facilitate building's later convertion ) địa điểm của công trình trên khu đất của nó ảnh hưởng đến phạm vi mở rộng và chiều cao từ sàn đến trần là quan trọng trong bối cảnh đó.
Diversity
 a place with variety and choice:


Một sự tích hợp các nhu cầu sử dụng ( bất kể với một công trình, một con đường loại một khu vực ) có thể giúp định trước một sự thích dụng đối với từng khu vực, và dạng hoạt động kinh tế, xã hội nào phù hợp.

Sự đa năng có lẽ khoảng chừng các quy mô khác nhau như: thị trấn, đô thị hoặc thành phố, for example, housing can provicle customers for shops, make use of empty space abone them and generate activity when they are closed. In residential arreas, workplaces, shops and other facilities can make the place more than just a dormitory.

 Mixed – use development có thể tạo ra cơ hội cho một sự đa dạng cao nhất và hoạt động mạnh mẽ tại nơi với một sự tiếp cận tốt nhất tới phương tiện giao thông công cộng. ở một mức độ đa dạng cao, nó có thể đưa ra một dạng môi trường sẽ hoà hợp với các dạng chủ sở hữu đặc biệt, như những người trẻ và người độc thân, hoặc vợ chồng với những đứa trẻ.
Tạo ra sự đa dạng thi hút dân cư đến sống, làm việc và vui chơi trong cùng một nơi.
* Sự đa dạng có thể ở quy mô công trình ( one use abone another ), con đường (one use next to another ) hoặc một đơn vị láng giềng ( group of use next to others ).
* Một khu vực năng động thường có một sự đa dạng lôi kéo nhiều người khác nhau sử dụng cùng một khu vực của một toà nhà hoặc một khu vực tại nhiều thời điểm khác nhau trong ngày, cũng như các sự sử dụng khác nhau trong những khu vực khác nhau của toà nhà hoặc không gian ở cùng một thời gian.

Đạt được một sự đa dạng chuẩn mực là quan trọng.
* Một sự đa dạng thành công là nơi mà các mục đích sử dụng tương hợp với nhau và tác động qua lại với nhau đến mức có thể.
* Sự đa dạng thành công đạt được mục đích sử dụng tạo ra một sự cân bằng với bộ phận phục vụ ( a balanced community with a range of serrvices ) without increasing reliance on the car.
Birmingham's Brindleyplace is a major
commercial mixed-use development

 Sự đa dạng về bố cục cấu trúc công trình và sự chiếm hữu có thể góp phần tạo thành một môi trường sống và làm việc thành công.
* Những toà nhà với kích thước và thể loại khác nhau dành cho các mục đích sử dụng khác nhau sẽ thích nghi được qua thời gian.
* Sự thăng tiến bao gồm cả xã hội, khu vực nhà ở cộng đồng không phân biệt với các khu nhà ở riêng biệt bởi chính thiết kế của nó, nếu không nó sẽ bị tách ra khỏi khu vực có sức hấp dẫn.
* Chia nhỏ khu vực rộng lớn ra thành những dự án nhỏ với sự tiếp cận thẳng tới đường chung là một phương thức để tạo ra sự đa dạng, đặc biệt nếu những sự tiếp cận khác nhau đến thiết kế được chấp nhận, sử dụng nhiều kiến trúc sư khác nhau.
* Những mặt tiền nhà thẳng hàng làm cho các cửa hàng nhỏ và các hoạt động buôn bán phát triển mạnh và dễ thích nghi với sự thay đổi.

Nhãn:

1 Nhận xét:

Tại lúc 01:13 14 tháng 2, 2017 , Blogger Unknown nói...

Có một số câu chưa dịch

 

Đăng nhận xét

Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]

<< Trang chủ