Rem Kooolhaas
Rem Kooolhaas
Người nối tiếp của thời đại
Người nối tiếp của thời đại
Nguyễn Đức Mạnh Tường - Huế 2001
“ con đường thái quá dẫn tới lâu đài minh triết”
William Blaker
Ngay cả sự bất hợp lý đôi khi cũng chỉ cho chúng ta thấy những ẩn chứa mà rất có thể chúng ta phải nghĩ đến. Rem Koolhaas là một trường hợp như vậy.
Rem Koolhaas sinh năm 1944 tại Rotterdam. Sau một thời gian sống ở indonessia trong khoảng từ năm 1952 đến năm 1956, ông định cư tại Amsterdam và làm việc như một phóng viên cho tạp chí Haagse Post và đồng thời cũng là một nhà viết kịch bản phim trước khi sống ở London và nghiên cứu kiến trúc tại Architecture Assosociation School. Năm 1972 ông nhận được học bổng du học tại Hoa Kỳ. Năm 1975 Koolhaas, Madelon Vriesendrop cùng với Elia và Zoe Zenghelis mở một văn phòng kiến trúc mang tên Office Metropolitan Architecture ( OMA ) tại London với mục tiêu là xác định lại những đặc tính mới trong mối quan hệ trong lý thuyết cũng như thực tiễn giữa kiến trúc và nền văn hoá hiện đại.
Rem Koolhaas sinh năm 1944 tại Rotterdam. Sau một thời gian sống ở indonessia trong khoảng từ năm 1952 đến năm 1956, ông định cư tại Amsterdam và làm việc như một phóng viên cho tạp chí Haagse Post và đồng thời cũng là một nhà viết kịch bản phim trước khi sống ở London và nghiên cứu kiến trúc tại Architecture Assosociation School. Năm 1972 ông nhận được học bổng du học tại Hoa Kỳ. Năm 1975 Koolhaas, Madelon Vriesendrop cùng với Elia và Zoe Zenghelis mở một văn phòng kiến trúc mang tên Office Metropolitan Architecture ( OMA ) tại London với mục tiêu là xác định lại những đặc tính mới trong mối quan hệ trong lý thuyết cũng như thực tiễn giữa kiến trúc và nền văn hoá hiện đại.
Đứng bên ngoài tất cả những tranh luận, nhận định khâm phục hay chống đối Rem Kooolhaas là một sự lý giải khó khăn và thất bại cho những gì đối nghịch với thời đại, con người và tương lai. Tại thời điểm được xem như một nhà kiến trúc phi cấu trúc (deconstrutivism), Koolhaas không đặt ra những giá trị nhân bản như thời đại chúng ta bởi thực chất nó đã hư hoại và hoàn toàn không còn tinh khiết nữa kể từ những gào thét của xã hội học, của triết học như Nietzsche, Heidegget hay Marcuse (2)… và sau đó là một sự suy thoái và những nỗ lực cứu vãn khơi mở từ câu hỏi của Le Coorbusier : “ kiến trúc hay là cách mạng”. Nền văn minh đã diễn ra trên những đô thị của chúng ta và như vậy trên đó chúng ta cũng đang chứng kiến một loạt sự hư hoại tưởng chừng như có thể che đậy. Chủ nghĩa phi cấu trúc chống lại cái gọi là nhân bản đã hư hoại đó. Nó vượt qua chủ nghĩa nhân bản.
Tỏ ra ủng hộ và là một người tiên phong của một cuộc cách mạng mới, năm 1978 Koolhaas xuất bản cuốn sách đầu tiên Dilireous Newyork (3) đã chỉ ra những tắc nghẽn của thành phố được nhìn nhận ở nhiều góc độ kỳ lạ và cũng rất sắc sảo đã cuốn hút sự ca ngợi cũng như phê phán. Cuốn sách đã vén mở những bức màn đa dạng của lý thuyết đô thị và đưa ra những viễn cảnh tương lai của thành phố. Năm 1994 Koolhaas , OMA và Bruce Mau đã xuất bản cuốn sách S, M, L, XL (4) như một tuyên bố về sứ mệnh của kiến trúc. Cuốn sách dày hơn 1300 trang chứa đựng những bí ẩn kì lạ về kiến trúc và như vậy là của nền văn minh của chúng ta. Những hình ảnh truỵ lạc cuộc chia cắt con người, những cảnh khủng bố, những cuộc tiêu diệt ở một sự đổi ngôi của một thể chế, sự văn minh, hưng thịnh, trật tự, sức sống và cả những cái chết…sự liên tưởng có tính chất tiên tri của Koolhaas đã khoét sâu vào thực trạng và văn minh con người như một sự tiếp diễn của lịch sử. Lucas Monaco đã miêu tả cuốn sách như một sự phục sinh của quái vật frankentin : “… và điều quan trọng là người đọc sẽ rời khỏi những thị, thính giác của Koolhaas để trở lại với thực tại và qua đó là cả tương lai. Một thế giới nơi con người điều khiển bởi những cấu trúc quanh họ, tất cả được thừa nhận như một thực thể không phân chia, truyền thống, nghệ thuật, cuộc sống và khi bạn đọc những chữ cuối cùng của cuốn sách bạn sẽ thực sự thấy rằng đó không phải là nói về OMA hay về Rem Koolhaas mà là về kiến trúc, về thế hệ 20, về bạn về tôi, một quái vật”.
Kooolhaas đặt ra những vấn đề của thời đại khiến chúng ta có thể tiếp nhận một cách nhanh chóng những xúc cảm rộng lớn vượt ra ngoài những thói quen nghề nghiệp đơn thuần, tiếp tục buộc chúng ta phải có hành động thức tỉnh khi ông tàn phá vào những ý niệm chết chóc khô cứng bằng những định nghĩa, khái niệm hay một sự trích dẫn những triết học, tâm lý học, văn chương và thi ca theo một ý nghĩa kỳ lạ vượt qua bên kia ngôn ngữ. Đó chính là điều đã khiến cho sự phê bình với những quan điểm kiểu phán xét sẽ không bao giờ có thể hiểu được và không bao giờ có thể hiểu được và như vậy những liên kết giữa các quan điểm đầy lý trí và những linh cảm tiên tri của Koolhaas sẽ không được khơi mở.
Sự tự do trong tư tưởng, sự từ chối chủ nghĩa lý tưởng, từ chối sự hoan cố, sự luyến tiếc những quá khứ hay chủ nghĩa duy cảm, sự bác bỏ những cấm đoán và những giá trị cổ điển trong kiến trúc và như vậy là sự bác bỏ những viễn cảnh đầy sợ hãi và những cám dỗ đang tồn tại.
“Koolhaas tiếp tục xoá nhoà ranh giới giữa kiến trúc, quy hoạch đô thị và văn hoá trong từng lý thuyết và các thiết kế của ông. Thiết kế trong sự tự do hoàn toàn không phụ thuộc vào những quy tắc luật lệ phức tạp, đan bện và nói chung là không rõ ràng (điều này khiến tạo ra những hoài nghi và những sự đảo lộn) một vài biệt thự được tạo ra từ những sự trùng hợp ngẫu nhiên và thái độ ấy có lẽ là những gì hoàn thiện nhất của ông. Chúng là những kiệt tác thực sự chứa đựng những thông điệp tiên tri xuyên qua bên kia những gì đăng lăm le đe doạ hạ gục chúng. Chúng ta không quen với những sự suy nghĩ và nhìn nhận về những nhịp điệu đó. Một sự thất vọng mang tính lý thuyết lại dẫn đến sự bừng rạng một niềm hân hoan”. ( Francois Chaslin ).
Những công trình mảnh mai duyên dáng của Koolhaas chứa đựng bên trong cả một tầm nhìn mới mẻ về định mệnh của thành phố và qua đó những quyết định mang tính triệt để của Koolhaas cũng là sự chấp nhận một cách rất Nietzsche về những chiều hướng tiêu cực và phần nào bi thảm của nó. Tiếng “ừ” chấp nhận đó dội lại những sấm ngôn của Ecce Homo, vượt lên thiện ác (Beyon Good and Evil) và cũng là một cách gián tiếp khước từ sự thể hiện cái tôi trong cuộc sống và nghệ thuật. Những câu trả lời kết thúc bằng dấu chấm hỏi của Koolhaas tiếp tục gieo vãi những mầm mống nghi ngờ và gây kinh ngạc. Sự dữ dội đến hăm doạ của ông dường như cũng đã gây ra những khiêu khích nhưng đó cũng chính là cái tự nhiên bình thường và chân thật ở kiến trúc của ông.
“ Công trình của Koolhaas tiếp tục tấn công vào những gì điển hình của một thế giới kém sáng tạo, vượt qua sự giằng co giữa quá khứ và hiện tại, giữa những di sản cần được bảo vệ và sự tất yếu của việc định hình cho tương lai. Mối quan hệ đó làm chết cứng chúng ta, những người quan tâm một cách thái quá đến quá khứ, đồng thời cũng không thể phủ nhận được tính hiệu quả dù là trong phạm vi giải pháp của những chủ nghĩa hiện đại và kết quả là những cảm giác sợ hãi và phản kháng khi ta đối mặt với sự trỗi dậy trên bình diện rộng lớn của việc tạo dựng và phát triển của thành phố từ quan điểm công năng đến việc thể hiện cấu trúc, từ thẩm mỹ đến biểu tượng và đến khái niệm đô thị rộng lớn” ( Francois Chaslin ).
Thái độ của Koolhaas là chấp nhận những gì đến một cách liên tục, có mặt ở hiện tại và sẽ biến mất tựa như thời điểm gặp nhau của hai yếu tố song song hay là ở vô cùng Koolhaas tiếp nhận sự biến dịch tất yếu cho đến lúc tựa như con sóng tại thời điểm nó đổ xuống nghĩa là nó phải vỗ vào bờ. Kiến trúc đã như một con sóng và đô thị là một đại dương. Sự đối lập giữa cá tính tạo ra trong những biệt thự với tính không giới hạn trong những không gian công cộng mà ông thiết kế cũng là một minh hoạ cho việc tiến tới sự rộng lớn của kiến trúc. Điều này khiến cho chúng ra nghi ngờ về sự không nhất quán của những đồ án mang tính lý thuyết và các công trình thực tế của ông. Đối với chúng ta tấm màn ngăn cách đó nảy sinh từ các từ những hoài nghi những luyến tiếc về những giá trị tạm thời của chủ nghĩa tạm thời và như vậy cùng một lúc chúng ta công kích ông như người bảo vệ sự hỗn độn và sự thiếu vĩnh cửu của một thành phố, mặt khác chúng ta công nhận, tán dương ông như một nghệ sỹ tài năng.
Koolhaas tiếp nhận và hình dung về viễn cảnh như một sự chấp nhận, ông nuối tiếp và gây dựng trên sự đổ vỡ đó theo cách thức của ông. Bằng cách đó Koolhaas thoát khỏi sự mất mát phương hướng ít nhiều cũng đã làm bàng hoàng dù là con người điềm tĩnh như Tange, Maki hay cả nhà tiên tri Le Coorbusier …. Vào một thời kỳ mà sự không tưởng đã ít nhiều cho thấy một tình trạng khủng hoảng không thể cưỡng lại được. Koolhaas đã phát triển một phương pháp giải quyết rất đặc trưng và riêng biệt trong mối quan hệ giữa kiến trúc và quy hoạch đô thị. Thay cho sự khước từ những phức tạp, thiếu chủ động, sự chống đối và những mâu thuẫn rộng lớn mà Koolhaas đưa ông ra tuyên bố rằng không thể còn có thể tiếp tục trong cách thức cổ điển của chủ nghĩa hiện đại. Những gì cần tính đến là sự nhạy cảm đối với những vấn đề đang nan giải mà rất có thể nó muốn khước từ những thực tế đang tồn tại. Đó chính là sự khác biệt trong cách thức tiếp cận và tiếp theo là những giải pháp của Koolhaas theo cái cách là chúng ta đã có mặt ở nơi đây và đã tạo ra những điều đó. Một bức tường vô hình được ông dựng lên để ngăn chặn những áp lực những xâm lăng không thể mệt mỏi của những ám ảnh, thời gian và những tham vọng cứu vãn.
Làm thế nào để sắp xếp lại sự hỗn độn bằng việc thừa nhận hơn là chối bỏ? ở đây Koolhaas tỏ ra khâm phục những gì người Nhật đã làm đối với đô thị của họ - tình trạng hỗn độn, những cơn đau bệnh, nguy cơ tận thế như Tange đã nhận xét hay với Maki là: sự tồn tại và xung đột của một thể thống nhất bao gồm cá thể và cộng đồng. Sự biến thái rộng lớn và nhanh chóng không thể sự đoán trong cấu trúc vật lý của xã hội. Hiệu quả của những phương pháp mang tính cộng đồng và tiến trình công nghệ với những ảnh hưởng của nó đối với các nền văn hoá.
Bị cuốn hút bởi sự lan rộng của thành phố như một sinh thể, loại bỏ những yêú tố thời gian, ý tưởng về thành phố của Koolhaas tấn công trở lại một phức hợp bao gồm cả lịch sử văn chương, thi ca nghệ thuật, triết học, tâm lý học….những truyền thống cững nhắc và những ý đồ phục cổ có chủ ý, những nhồi nhét trống rỗng, những không tưởng hiệu quả tạm thời, những luân lý, những giá trị xã hội và gieo rắc bởi “ý thức nhà thơ”…Tất cả đó có thể là những hợp lý tương đối nhưng không thực tế đối với chúng ta, chúng có thể giúp chúng ta xem xét thành phố như một vấn đề có thể mổ xẻ song thực tế tất cả vấn đề chỉ có như vậy. Chúng ta chỉ có thể thấy được trong chúng những gì đã xếp đặt và đang hiện diện và như vậy dù bất kỳ sự thích hợp nào cũng sẽ ngăn cản chúng ta khỏi những nhận thức về những hình thái, cấu trúc mới mẻ của thành phố. Bức tường Berlin hay cuộc phiêu lưu tự nguyện tới London, trên cái nền tảng nhị nguyên của chúng ta đó là sự chia chẻ manh mún, cô lập, hận thù và phá hoại. Cách tiếp nhận này có thể nếu ở một mức độ rộng rộng ra sẽ đưa đến một dấu kết thúc và đến đây khái niệm đô thị của chúng ta sẽ bị phá sản. Cách thức của Koolhaas là tiếp nhận tất cả các phương diện tiêu cực đó và đồng thời xem nó như những thành phần của một cuộc chiến kiến trúc, nó khơi mở và thúc đẩy cho một cuộc hoán đổi toàn triệt. Le Corbusier quả là thiên tài, những nỗ lực và tiên đoán của ông sẽ tiếp tục cho thấy rằng việc sắp xếp lại trật tự của những thành phố sẽ vẫn là một viễn tượng chừng nào chúng ta còn tiếp tục nghề nghiệp của mình.
Tương lai có thể diễn ra nhanh hơn bất cứ một sự hình dung nào mặt dù nó vẫn mãi là một bí mật. Koolhaas bắt gặp điều này ở sự trực diện và nắm bắt lấy nó thông qua một cách thức mạo hiểm - Sự phá huỷ hay là cách thức của chủ nghĩa phi cấu trúc như chúng ta thường gọi, một cách thức mà Koolhaas quan tâm. Trong cách thức tạo dựng mới mẻ đó những phép ẩn dụ được sử dụng và đã cho thấy nhanh chóng sự tẻ nhạt, rời rạc và sự phân mảnh ở một thời kỳ cuối của quá trình đổ vỡ gậm nhấm. Trong những công trình của mình, cách thức của Koolhaas gây ra những xung đột, biến dịch từ cấu trúc đến không gian, những bất động thường đặc trưng được kết nối thông qua sự định nghĩa lại những không gian công cộng, chúng trở nên riêng hơn trong khi vẫn tiếp tục giữ kín những bí mật của nó. Koolhaas dịch chuyển lại những quy tắc và như vậy những diễn biến tuyến tính chấm dứt và lúc đó chúng ta sẽ không bao giờ phải đi vào nhà cả. Sự ám ảnh của những năng lượng toả ra cũng như hấp thụ tại những xung đột có thể hình dung như là một quá trình đông lực học hình học chấm dứt sự bất hoà giữa bên trong và bên ngoài - một sự lan tràn tự nhiên và như vậy những ám ảnh đô thị của đường phố di chuyển vào bên trong những cấu trúc tạo ra nó như những tồn tại tất yếu. Đơn giản chân thật, những suy tưởng siêu hình không còn tồn tại, những mưu toan nghệ thuật không có mặt và như vậy nó có cơ hội hoàn thành sứ mạng của mình, các cấu trúc được đẩy tới một giới hạn gây ra những nghi ngờ, khoảng không thăng hoa qua những biến chuyển - sự hiện diện cũng như tự biến mất tại những vị trí nó phải như vậy, đôi khi bị chọc thủng bởi những điều kiện không hợp lý, sự mất đối xứng gây ra những vấn đề về khả năng tự huỷ hoại và tái tạo của những yếu tố đồng thời.
Nghệ thuật đã như một sự cám dỗ và thiên nhiên kể từ sau những nỗ lực của Wright đã không thể sống lại bởi con người sẽ không bao giờ có thể tạo ra thiên nhiên. Đó là những nền tảng của Koolhaas.
“ không tiền bạc, không thời gian, không các chi tiết” câu nói đã làm buồn lòng người đồng hương Aldovan Eyck, và phản ứng của Van là một sự rút lui ẩn chứa lòng khâm phục đối với cuộc cách mạng này. Giải pháp vẫn chỉ ở trong phạm vi của giải pháp, Koolhaas không chấp nhận sự tạm thời của một giải pháp, nó đòi hỏi phải có thời gian. Koolhaas tiếp cận từ những ám ảnh của đô thị và vấn để trở nên giống như cái nút Gordian nghĩa là hoặc nó sẽ được tháo gỡ ngay lúc này hoặc là không bao giờ.
Kiến trúc đã tiến đến một thời điểm mà chúng ta cần phải dừng lại để có thể nhìn nhận những ảnh hưởng rộng lớn của nó và lựa chọn cho một cách thức nhằm chấm sứt sự rời rạc của kiến trúc đối với những đặc tính đô thị mà nó phải tìm lại. Biggness là một khái niệm mà Koolhaas đưa ra có thể nói là để tiếp nối những tư tưởng tiền phong của Le Corbusier và toàn vẹn hoá những phát kiến của người Nhật (ở đây nói tới Kenzo Tange và Fumihiko Maki ). Lý thuyết Biggness được xây dựng trên những phát sinh kể từ nền văn minh con người, và dựa trên những công nghệ của thời đại, loại bỏ những giả tạo không cần thiết Biggness chứa đựng một cách chân thật những đặc tính của một “ mạng lưới”, Biggness là sự dung thông giữa các mắt xích đó. Chính từ sự phát triển của kiến trúc chúng ta đã khai sinh ra Biggness.Biggness có thể được dịch là sự rộng lớn nhưng để mỗi một người đọc có thể tự lĩnh hội độ rộng lớn của nó, trong phần này người dịch giữ nguyên bản tiếng Anh.
Biggness - sự rộng lớn
Vượt qua một tỉ lệ nào đó, kiến trúc đòi hỏi những đặc tính của Biggness. Lý do quan trọng nhất để thảo luận về Biggness là hãy hình dung trạng thái của những người leo núi đang chinh phục Everest, rằng Everest phải hiện hữu, có nghĩa là Biggness cũng phải tồn tại như một tất yếu.
Biggness là tối hậu của kiến trúc. Điều này dường như không thể tin được. Nói cách khác, kích thước của một công trình biểu hiện đơn lẻ của một hệ tư tưởng sẽ bị tách rời, nó không thuộc về tương lai của kiến trúc.
Với tất cả những phạm trù khả hữu, Biggness có giá trị như một bản tuyên ngôn và phải được xem xét như một bài toán trí tuệ. Nhìn từ bên ngoài dường như nó đang đi đến một sự tiêu diệt - giống như con khủng long, thông qua sự vụng về, chậm chạp thiếu linh động. Nhưng sự thật chỉ có Biggness là có khả năng thúc đẩy, làm xúc tác cho cấu trúc của những tổ hợp, nơi thể hiến sự thống nhất trên toàn diện tính thông minh của kiến trúc và những lĩnh vực liên quan đến nó.
Cách đây một trăm năm. một sự hồi sinh của những đột phá trong khái niệm và sự trợ giúp của công nghệ đã tháo gỡ những bế tắc cho việc xảy ra một BiggBang trong một kiến trúc, một khởi nguyên mới mẻ cho kiến trúc. Bằng cách ngẫu nhiên hoá sự lưu thông tuần hoàn những khoảng cách ngăn chia, những nội thất thông minh, sự giảm tải trọng, sự tăng tốc của kết cấu, thang máy, điện tử, điều hoà, thép và cuối cùng là những hạ tầng cơ sở mới mẻ tạo ra một chuỗi liên tục những đột biến gây ra những trái nghịch khác của kiến trúc. Kết quả tổng hợp của những phát kiến này là những cấu trúc cao hơn – Biggness – hơn tất cả những gì được nhận thức trước đây với một tiềm năng song đôi của sự tái tổ chức toàn cầu như một xã hội.
Một kế hoạch khổng lồ
Lý thuyết ( Theorim )
Bị thúc đẩy bởi một năng lượng vô thức của sự định lượng thuần tuý – Biggness, kể từ gần một thế kỷ, nay đã đến một thời điểm không còn những tư tưởng gia, một cuộc cách mạng đột ngột và toàn triệt.
Dillrrious Newyork năm 1078 đã tiềm tàng một “ lý thuyết Biggness” xây dựng trên 5 nguyên lý:
1. Vượt hệ nguyên tắc vốn dĩ nào đó, một công trình trở thành một công trình lớn ( big build ) một thực thể không còn bị điều khiển bởi những phản ứng tích cực riêng lẻ hay thậm chí bất kỳ một kết hợp nào của những phản ứng đó không phải là một sự phân mảnh: những thành phần đó vẫn nằm trong một toàn thể.
2. Thang máy - với tiềm năng của nó có thể tạo nên những liên kết kiến trúc cơ học hơn và tất cả những phát triển liên quan cho thấy sự vô cảm và trống rỗng những giá trị trong việc tưởng nhớ đối với những yếu tố cổ điển trong kiến trúc
“ nghệ thuật” trở nên vô ích trong khái niệm Biggness
3. Trong Biggness khoảng cách giữa lõi và yếu tố bao che được tăng lên tới mức các mặt đứng của toà nhà không còn có thể để lộ ra bên ngoài những gì đang diễn ra bên trong. Một sự hoà giải đối với sự bất ổn định của những nhu cầu mang tính hệ thống và trừu tượng và những tác phẩm thông tin đòi hỏi ở thành phố sự ổn định chắc chắn.
Biggness nơi kiến trúc biểu lộ gây ra những sự phức tạp. Biggness làm thay đổi từ một tổng thể những tuyệt đối thành một chồng chất những bí ẩn khó hiểu. Những gì bạn thấy không chỉ là những gì bạn có.
4. Thông qua kích thước, công trình tiến đến một lĩnh vực phi nguyên tắc.
Vượt lên những tích cực và tiêu cực, ảnh hưởng của chúng độc lập với chất lượng của chúng.
5. Đồng thời tất cả những gẫy vỡ đó với tỉ lệ, với sự kết hợp của kiến trúc, với truyền thông, với những quy cách có tính chuẩn mực, nói chung là với những gẫy vỡ, những gián đoạn sâu xa nhất : Biggness không còn là một tế bào của bất kỳ một đô thị nào, nó chính là đô thị
Nó tồn tại; ở hầu hết, nó cùng tồn tại ( it coexitence )
Phụ cảnh giao kết vào toàn cảnh
Sự hiện đại hoá ( Modernization )
Năm 1978 Biggness dường như là một hiện tượng của một thế giới mới. Nhưng trong nửa đầu những năm 80 những dấu hiệu lan tràn không thể kìm chế của làn sóng hiện đại hoá mà ít hay nhiều bằng sự nguỵ trang bên ngoài có thể nhận chìm thế giới cũ, gây ra những xung đột bên trong nó tại sự khởi đầu mới mẻ này.
Chống lại nền tảng của Châu Âu, có sốc của Biggness gây áp lực với chúng ta làm cho những gì đang còn ngấm ngầm trong Dillrrious Newyork hiển lộ một cách rõ ràng ở đây. Biggness trở thành một song luận chiến, chạm trán với những nỗ lực tập trung có phần thái qua và những lý thuyết hiện đại đang nghi ngờ về tương lai có thể xảy ra của toàn thể (whole) và cái hiện thực (real) như những phạm trù đang tồn tại và khả năng tự hiện diện của nó có thể chịu đựng chính sự phá huỷ và phân mảnh không thể tránh khỏi kiến trúc.
Những người Châu Âu đã vượt xa hơn sự đe doạ của Biggness bởi việc lý thuyết hoá vượt lên những mục tiêu ứng dụng. Sự đóng góp của họ như một món quà, đó là siêu cấu trúc (megastructure) - một hình thức kết hợp tổng quát khả năng trợ giúp của kỹ thuật đối với vấn đề của những công trình riêng lẻ. Một Biggness an toàn, sự ẩn chứa chân thực của nó ngăn chặn sự bổ sung và loại trừ tính hoàn thiện hay không?
Không gian trong quy hoạch đô thị của Yona Friedman ( 1958 ) đã là một mẫu hình; Biggness ẩn hiện như đám mây lơ lửng khắp Paris như một lớp vỏ bọc kim loại, không ngăn chặn nhưng cũng không điều chỉnh sự tái sinh tiềm ẩn của nó - chủ nghĩa phê phán (Criticism ) đã như một sự trang trí.
Năm 1972 Beaubourg – cái gác xép kinh điển đã tạo ra những không gian mà trong đó mọi thứ đều có thể. Tính linh hoạt cuối cùng bị lật tẩy như một trò bịp bợm của tiêu chuẩn lý thuyết thông thường, ở sự trả giá của cả những đặc trưng và tính chính xác, cái giá của sự thống nhất. Sự giãi bày rõ ràng đó loại trừ thái độ lập lờ nảy sinh khi nhận thấy hiệu quả của cái gọi là nhà chọc trời Mỹ quốc.
Rõ ràng là sự phát sinh của sự kiện tháng 5 năm 68 - sự phát sinh sáng suốt tột bực, cho biết việc gây ra những đổ vỡ trực tiếp bởi những mảnh vỡ được lựa chọn một cách miễn cưỡng những vay mượn của nó từ những nguyên tắc khác. Do sự thất bại của nó và những mô hình tương tự dày đặc, do tính nhạy cảm không có hệ thống của chúng đối với cái riêng biệt mà nó đưa ra hai cách thức cứu vãn chính: sự lột bỏ lớp che phủ; sự tự biến mất.
Ở cách đầu tiên, thế giới bị tách rời thành những cuộc xung đột không thể dung hoà trong một thể thống nhất. Mỗi một lý do thoái thác xa hơn nữa của sự phân mảnh cái toàn thể: một cơn bùng vỡ bất ngờ của quá trình tháo rời biến cái rời rạc thành hệ thống phía sau sự sụp đổ đó theo những đòi hỏi nhỏ nhất của công năng ẩn hiện lờ mờ sự phản ứng vô thức, sai lầm của những học thuyết lỗi thời gọi là hình thức – theo – công năng ( Form – follows – function ) tạo nên đặc tính của một đồ án…Đằng sau sự loè loẹt của những nguỵ biện hình thức và gỉa dối về tính trí tuệ là nguy cơ tiến đến một cách mù quáng sự thoái dần tựa như sự hạ xuống cực điểm trong một biểu đồ kể từ những cái gọi là thẩm mỹ của nó muốn đưa chúng ta tới những giao hưởng của hỗn mang. Trong bối cảnh của sự chia cắt và hỗn loạn tưởng tượng đó, mỗi một hành động phải được đặt vào vị thế của nó ( put in its place )
Sự lai tạp có hệ thống / những quan hệ cận kề/ những va chạm/ sự chồng chéo/ sự lặp lại, tất cả đều có thể xảy ra trong Biggness.
Ở chiến lược thứ hai, sự biến mất, sự vượt quá những vấn đề của Biggness thông qua sự bành trướng của sự ràng buộc giữa cái giả tạo, tính chân thực, sự không tồn tại. Một sự chắp vá những tranh cãi bị quét sạch từ những năm 60 bởi những nhà xã hội học những nhà tưởng, những triết gia Mỹ quốc, những nhà thần bí pháp cho rằng kiến trúc sẽ như một thanh kim loại nóng chảy vào không khí qua những hiệu quả theo những khuynh hướng nhân khẩu học, điện tử, tin học, tốc độ và kinh tế , giờ rỗi, cái chết của thượng đế ( the Death of God ), sách, điện thoại, Fax, sự giàu có, dân chủ ( democracy ), sự kết thúc của câu chuyện về tính rộng lớn ( big story )…
Sự đề xướng có tính ngăn chặn khả năng biến mất có thực của kiến trúc, sự tiên phong này đang thử nghiệm tính chân thực hoặc giả tạo, tính quyền lực tuyệt đối vốn dĩ của nó trong một thế giới của những thực tế ảo tưởng.
Cực đại ( maximm )
Một cách nghịch lý, cái toàn thể và cái Chân thật liên tục tồn tại tựa như sự táo bạo của kiến trúc sư tại thời điểm cận kề với kết thúc của thiên nhiên kỷ thứ hai nhận thấy một sự dồn nén ồ ạt và toàn diện cho một cuộc tái thiết, củng cố, hợp nhất và sự bành trướng của một tỉ lệ siêu lớn.
Sự vắng mặt của một lý thuyết về biggness là một sự đau yếu suy nhược nhất của kiến trúc. Không có lý thuyết Biggness những kiến trúc sư sẽ chỉ là một những nhà tạo tác của những quái vật Frankenstein: những người chủ mưu mà ở một chừng mực nào đó kết quả thành công của một thí nghiệm đang điều khiển một chứng điên cuồng. Vì không có một lý thuyết về Biggness nên chúng ta không biết làm gì với nó, không biết nơi đặt nó, không biết khi nào sử dụng nó, không biết tiến hành nó thế nào. Những lỗi lầm lớn chỉ là những liên kết, quan hệ của chúng ta đối với Biggness.
Bất chấp cái tên có vẻ xa lạ và bình thường của nó, Biggness vẫn là một khuôn khổ lý thuyết tại thời điểm lý thuyết tại thời điểm kết thúc của thế kỷ này: trong một bối cảnh xáo trộn, tháo rời, phân ly và chối bỏ, tính hấp dẫn của Biggness là những tiềm năng để xây dựng lại cái toàn thể, khôi phục cái chân thực, tái tạo tính tập hợp và khai thác tối đa những khả năng khả hữu.
Thông qua Biggness có thể kiến trúc tự phân ly từ phong trào, tư tưởng, nghệ thuật đã kiệt sức của chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hình thức để chiểm lại những phương tiện có tính chất công cụ biểu hiện cẩ sự hiện đại hoá.
Biggness thừa nhận rằng kiến trúc như chúng ta đã biết, đó là một vấn đề nan giải nhưng nó không phải là những cố gắng thái quá để đem lại những sai lầm thông qua những phản hồi từ sự dị ứng của kiến trúc. Nó đề nghị một giải pháp ở đó kiến trúc không còn bị hỗn tạp hoá mà là ở một vị thế chiến lược tìm lại được thông qua những phản hồi từ sự dị ứng của kiến trúc không còn bị hỗn tạp hoá mà là ở vị thế chiến lược tìm lại được thông qua sự rút lui và tập trung, sự nhượng bộ đối với những thế lực thù địch.
Sự khởi đầu ( beginning )
Biggness sẽ phá huỷ nhưng đó là một khởi điểm mới mẻ. Nó có thể tích hợp và thống nhất hoá những mảnh vỡ đó. Một nghịch lý của Biggness là mặt dù sự tính toán đã được đưa vào trong cách sắp xếp của nó - thực tế thông qua sự rộng lớn của nó, đó là một nền kiến trúc đã vạch ra và sắp đặt trước những khả năng không thể tiên đoán được. Thay vì khuyếch đại sự cùng tồn tại, Biggness phụ thuộc vào thể chế của những tự do, và sự tích hợp của những khác biệt cao độ.
Chỉ có Biggness là có thể chống đỡ được sự hỗn loạn đó, pha tạp, sự nảy nở không kiểm soát được của những nguy cơ mang lại từ những đối tượng riêng lẻ - những mảnh vỡ rời rạc. Nó phát triển những chiến lược để tổ chức cả sự độc lập và tương thuộc của nó trong một thực thể rộng lớn bằng mối quan hệ cộng sinh (symbiosis ) mà ít nhiều đã làm trầm trọng thêm những tổn hại đối với đặc tính của nó.
Thông qua sự kết hợp hơn là sự tinh khiết, số lượng hơn là chất lượng, chỉ có Biggness mới có đủ khả năng chống đỡ nổi những mối quan hệ mới giữa những thực thể mang tính công năng đang bành trướng hơn là tự giới hạn những đặc tính của chúng. Tính nhân tạo và tính tổng hợp phức tạp của Biggness đã phóng thích công năng từ cái vỏ bảo vệ đến sự không phân biệt đối với những yếu tố đó. Những yếu tố mang tính chương trình phản hồi lại mỗi một yếu tố tương ứng để tạo nên những sự kiện mới. Biggness quay trở lại mô hình của hệ thống giả kim thuật (alchemy).
Ở cái nhìn đầu tiên những hành động phản ứng được tích luỹ trong cấu trúc Biggness. Nhưng Biggness cũng giữ lại trong nó những riêng biệt. Giống như những thanh Pluton xúc tác cho những phản ứng hạt nhân, Biggness điều tiết cho sức mạnh của sự cùng tồn tại ( coexittence ).
Mặc dù Biggness là một kế hoạch chi tiết cho những sức mạnh có tính vĩnh viễn và liên tục, nó cũng đòi hỏi những mức độ của tính tĩnh lặng và cả sự rộng lớn của nó với những cách thức thông thường mà không gây ra những xung đột. Sự rộng lớn giải quyết triệt để những đòi hỏi ép buộc của kiến trúc.
Nhóm hay Ê kíp
Biggnes là nơi kiến trúc trở thành trên cả hai phương diện là lớn nhất và nhỏ nhất trong kiến trúc: lớn nhất vì tầm cỡ đối tượng; nhỏ nhất là vì thông qua sự đánh mất tự trị - nó trở thành công cụ của những sức mạnh khác, nó trở nên phụ thuộc. Biggness không giành riêng cho một cá nhân, kiến trúc sư không còn là bị buộc tội ở vị thế ngôi sao. Ngay cả khi Biggness gia nhập những tham vọng của kiến trúc sư – tính tinh khiết đã giết chết những hoang tưởng tự đại – nó chỉ có thể đoạt lấy ở cái giá của sự từ bỏ quyền lực và những biến hoá ma thuật. Nó bao hàm một mạng lưới phức tạp những vị trí trung tâm liên kết với những nguyên tắc khác: giống như những người leo núi được ràng buộc với nhau bởi những sợi dây an toàn, những người tạo dựng Biggness là một nhóm (team ), một từ đã không được đề cập đến từ hơn 40 năm qua trong kiến trúc.
Vượt qua những ký hiệu Biggness chịu chi phối của công nghệ, xây dựng nhà thầu. nhà sản xuất, chính trị và nhiều lĩnh vực khác. Một tập hợp tính trung lập.
Bastion ( thành luỹ )
Nếu Biggness làm biến đổi kiến trúc thì sự tích tụ của nó sẽ phát sinh một kiểu thành phố mới. Bên ngoài cả thành phố không còn là một nhà hát tập thể nữa. Đường phố trở thành một phần của mạng lưới Metropolitan, nơi mà những tàn dư của quá khứ đối mặt với những thực thể mới mẻ trong một sự cách biệt không phải la dễ giải quyết. Biggness có thể tồn tại khắp nơi trên mạng lưới đó. Không những Biggness không đủ khả năng thiết lập những quan hệ với thành phố cổ điển - sự tồn tại tất yếu mà trong cái số lượng và những thành phần phức tạp khéo léo mà nó đã đưa ra, bản thân nó đã là đô thị.
Biggness không còn cần đến thành phố, nó có thể loại bỏ thành phố, nó là điển hình cho thành phố hay tóm lại nó chính là thành phố. Nếu quy hoạch đô thị làm Biggness lớn của quy hoạch đô thị chống lại sự hạn hẹp của kiến trúc.
Biggness = quy hoạch đô thị chống lại kiến trúc ( Biggness = urbannism vs. architecture )
Biggness thông qua sự độc lập cao độ của nó với toàn cảnh có thể phục vụ thậm chí có thể khai thác những nguyên tắc chi phối trên toàn cầu: nó không mang lại những cảm hứng từ những dồn nén thường xuyên đối với những giới hạn trước đó; nó bị hút về sự xác định những khả năng của nền tảng lớn nhất; cuối cùng nó là nguyên nhân tồn tại của chính nó.
Không phải tất cả kiến trúc, không phải tất cả các công trình, tất cả những sự kiện sẽ bị khống chế bởi Biggness. Có rất nhiều những nhu cầu không quá tập trung, quá phân ly, quá nghịch lý, quá những khả năng có thể khôi phục, quá bí ẩn và quá “ hư vô” (nothing) để có thể trở thành một thành phần của Biggness. Biggness là một pháo đài của kiến trúc, một kết tinh, một siêu kiến trúc. Những thực thể của Biggness sẽ là những điểm mốc trong cảnh quan hậu - kiến trúc: không thể lay chuyển biến đổi, xác định mức độ vĩnh viễn ở đó, phát sinh thông qua sự nỗ lực của con người (superhuman). Biggness là kiến trúc tối hậu
về cuốn S, M, L, XL
Biggness cũng đã được thể hiện trong bố cục của cuốn sách dày hơn 1300 trang này. Đầu đề của cuốn sách bản thân nó đã thể hiện một trật tự của những đồ án, đó là sự tăng dần để tiến đến sự rộng lớn: “ Biggness”. Tính thời ký của S, M, L, XL bản thân nó đã là một kiến trúc đồng thời đó là cả một sự tóm lược của văn chương, thi ca, triết học, … và kiến trúc. Với cuốn S, M, X, XL Koolhaas đã mở lại một cuộc không phải là đối thoại mà là song thoại với những tư tưởng đã tạo ra trên cả hai mặt nền kiến trúc và đô thị của chúng ta ngày nay từ F. l, Wright, Le Coorbusier, Mies đến Aldo van Eyck, Tange, Maki, …. , và cả đối với chúng ta, những người đang chứng kiến sự trải nghiệm của những tư tưởng đó. Làm như vậy Koolhaas bằng việc tiếp tục những suy tư nghi ngờ ông bởi lẽ “Những ai tỏ ra khâm phục tôi thì đó là cách tốt nhất để họ lánh xa tôi” ( Le Corrbussrer )
*Chú thích:
(*)William Blake cùng với Walt Whitman và cả Goeth là những thi sỹ mà tâm hồn vũ trụ của họ đã ảnh hưởng sâu đậm lên triết lý kiến trúc của Frank Loid Wright.
(1) Chủ nghĩa phi cấu trúc: deconstrutivím hay decontrution là một khuynh hướng với nỗ lực xem xét kiến trúc trong những thành phần tách rời của nó, ở đó các yếu tố nền tảng của kiến trúc được lột bỏ. Những công trình của chủ nghĩa phi kết cấu có vẻ như có vẻ như phi lo-gic về mặt thị giác, nó dường như được tạo nên từ những hình thể trừu tượng, không hài hoà và dường như không quan hệ với nhau. Những ý tưởng của chủ nghĩa phi cấu trúc trong kiến trúc lấy cảm hứng từ triết học của triết gia người Pháp Jacque Derrida, một phản ứng đối với chủ nghĩa cấu trúc ( construtivism ) của Claude Le’vi – Strauss. Ở đây nên lưu ý một nhận xét của kiến trúc sư Nguyễn Thanh Sơn là các khuynh hướng, trường phái hay chủ nghĩa này nọ chỉ là một sự sắp xếp từ những phân tích của các nhà phê bình và lịch sử kiến trúc, nó chỉ để cho chúng ta tham khảo và nhìn nhận những liên quan trong lịch sử chứ không thể giúp chúng ta đánh giá hết những tiềm tàng trong tư tưởng của người kiến trúc sư.
(2 Nietzsche, Heidegger hai triết gia thiên tài người Đức. Nietzsche là triết gia phải chịu nhiều ngộ nhận vì cách thức lập ngôn vô cùng mạnh bạo của ông, trái lại ngôn ngữ của Heidegger được xem là khó diễn dịch nhất từ trước tới nay. Những tác phẩm của Nietzsche ẩn chứa những giáo lý của phật giáo, còn Heizsche nỗ lực trình bày những những bí ẩn mà người ta chỉ có thể tìm thấy trong Thiền học của Đông phương. Có thể nói triết học tây phương bắt đầu từ Platon, tựu thành nơi Nietzsche và dừng lại ở cuốn sách đề cập tới những gì gọi là nền trọng yếu của nền văn minh chúng ta, đó là sự điều giải giữa cái khởi nguyên và cái tự phát và tất cả những phương diện có tính cách sáng tạo của bản chất con người.
(3) Dillrious Newyork: cuốn sách OMA, Rem Kooolhaas và xuất bản năm 1978 nội dung trong bối cảnh của Mahattan
(4) S.M.L.XL cuốn sách do OMA, Rem Koolhaas và Bruce Mau xuất bản năm 1994 nó đã làm hiển lộ những gì còn tiềm tàng trong Dillrious Newyork.
(5), (6) Ecce Homo và Beyond Good and Evil: hai tác phẩm của Nietzsche viết trong thời ký sáng tạo của ông lên đến đỉnh cao. Để ý chúng ta sẽ thấy cũng như Le Corbussier. Rem Koolhaas đã hấp thụ triết lý của Nietzsche về sáng tạo. Và nền kiến trúc mà Le Corbussier hướng tới là một thế giới như Marx đã mô tả.
(7) Francois Chaslin: nhà phê bình kiến trúc đương đại Pháp
(8) Kenzo Tange: kiến trúc sư Nhật Bản nổi tiếng với nguyên lý phản truyền thống trong kiến trúc và đồ án không tưởng Vịnh Tokyo 1960
(9) Fumihiko Maki: kiến trúc sư Nhật Bản nổi tiếng với lý thuyết “ hình thể tập hợp” ( Collective Form ) và đồ án K, minh hoạ cho ba loại hình thể là hình thể cấu tạo (compompoositionl form ), siêu cấu trúc (megastructure
) và hình thể là hình thể nhóm ( group form ). Cùng với Kisho Kurokawa, Kiyonori Kikutake, Arata Iissozaki và Tange là những người sáng lập chủ thuyết chuyển hoá luận ( metabolism )
(10)Trích dẫn của Kooolhaas trong cuốn S,M,L,XL từ Investigation in Collestive Form ( những nghiên cứu về hình thể tập hợp ) của Fumihiko Maki
(11) Aldo Van Eyck: kiến trúc sư Hà Lan được mệnh danh là “ kiến trúc sư nhà nhân chủng học”, một trong những thủ lĩnh của chủ nghĩa cấu trúc nổi lên thay thế sau thất bại của CIAM và Le Corbusier tôn vinh.
(12) Thần thoại Hy Lạp: nút Gordius là một cái nút được thắt bởi vua Gordius xứ Phrygia, theo sấm truyền thì chỉ có vị chúa tể tương lai của Châu Á mới có thể mở được, Alexandre không mở được bèn cắt phăng .
(13) Dung thông tiếng Anh là Boostrap có nghĩa là “dây dày” : thuật ngữ chỉ một triết học do nhà vật lý Geofrey Chew - được xem là người đã làm cuộc cách mạng thứ ba trong khoa học vật lý thế kỷ 20 sau Einstein , Borth và Heisenberg - đề xướng. Bằng sự thống nhất thuyết lượng tử và thuyết tương đối, thuyết dung thông từ bỏ thế giới quan cơ học trong vật lý hiện đại và một tả vũ trụ như một mạng lưới động chứa toàn những biến cố liên hệ với nhau. Không một tính chất nào trong mạng lưới này là cơ bản; tất cả chún đều sinh ra từ bản chất của những thành phần khác, và chúng tương thích toàn diện trong quá trình tương tác của những cấu trúc đã xác định trong toàn mạng lưới. Trong bài này người viết mượn thuật ngữ dung thông để nói đến những đặc tính “mạng lưới” của Biggness.
(14) Metropole một thuật ngữ của đô thị hiện đại, nó diễn tả một đô thị với mạng lưới Metro ( tàu điện ngầm ) mà người Châu ÂU cho rằng sẽ thay thế hệ thống giao thông của thành phố và tiến đến nối liền nhiều thành phố với nhau.
Nhãn: tham khảo


0 Nhận xét:
Đăng nhận xét
Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]
<< Trang chủ