Nguyễn Hoàng

"...từ trong chính bạn hãy sửa chữa những khuyết tật của dân tộc mình ... Garcia Marque

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2009

NGHỆ THUẬT TRỪU TƯỢNG

Mục lục

Kazimir Malevich, Black Square, c. 1915


 
Nghệ thuật trừu tượng sử dụng một dạng ngôn ngữ thị giác-visual language đặc trưng về hình thể, màu sắc và đường nét, tạo ra một bố cục mà có thể tồn tại độc lập ở một mức độ cao, ra khỏi những hình ảnh thuộc về thị giác hiện hữu của thế giới bên ngoài.[1] Nghệ thuật Phương Tây, từ thời kỳ Phục hưng cho tới giữa thế kỷ 19, dựa trên nền tảng của quy luật phối cảnh và hướng tới việc biểu hiện những ảo tưởng về một thế giới thực. Nghệ thuật ở những nền văn hoá khác ngoài Châu Âu đã trở nên có thể tiếp cận hoặc có thể phô trương những phương thức khác nhau diễn tả những trải nghiệm thị giác của người nghệ sỹ. Tới cuối thế kỷ 19 rất nhiều nghệ sỹ cảm thấy cần phải tạo ra một thứ nghệ thuật mới có thể chứa đựng được những thay đổi cơ bản trong công nghệ, khoa học và triết học đương thời. Nguồn gốc bắt nguồn từ những nghệ sỹ đã vẽ ra những chủ đề theo những lý thuyết của riêng họ theo thành nhiều thể loại khác nhau, phản ánh xã hội và những mối ưu tư trong tâm trí của mọi miền văn hoá Phương Tây tại thời điểm đó.[2]


Nghệ thuật trừu tượng, nghệ thuật phi hình tượng, nghệ thuật phi biểu hiện, đều gắn liền với những mối ưu tư liên quan đến nhau, tương tự nhau, mặc dầu về ý nghĩa chúng không giống nhau.



Trừu tượng biểu hiện một sự chuyển hướng khỏi thực tại trong sự miêu tả những hình ảnh nghệ thuật, sự chuyển hướng này dựa vào sự biểu hiện tính xác đáng hoặc có thể chỉ qua loa, hoặc có, hoặc không hoàn chỉnh. Sự tồn tại của trừu tượng là liên tục, thậm chí nghệ thuật ở mức độ biểu hiện một cách cực thực cũng có thể diễn đạt một cách trừu tượng, ít ra là trên lý thuyết, kể từ khi hiện hữu của những gì lý tưởng nhất trở nên cực kỳ khó nắm bắt. Hoạt động nghệ thuật có quyền tự do và biến đổi về màu sắc và hình thể theo những phương thức gây sự chú ý, có thể là một sự trừu tượng cục bộ. Sự trừu tượng triệt để hướng tới một sự xa rời tất cả những gì có thể nhận diện được. Trong sự trừu tượng hình học - geometric abstraction, ví dụ, không thể tìm kiếm được một thứ gì liên quan đến những thực thể tự nhiên. Nghệ thuật tượng trưng - Figurative art (nghệ thuật ẩn dụ) và trừu tượng tuyệt đối hầu như không chấp nhận lẫn nhau - mutually exclusive. Nhưng nghệ thuật tuợng trưng và biểu hiện (hoặc hiện thực) đều chứa đựng một phần nào đó của trừu tượng.



Cả trừu tượng hình học và trừu tượng trữ tình-Lyrical Abstraction đều là trừu tượng một cách tuyệt đối. Trong số những dòng vận động của nghệ thuật thể hiện một phần nào đó sự trừu tượng có thể trở thành một trường hợp của Trường phái Dã thú - fauvism trong đó màu sắc bị biến đổi khỏi thực tế một cách có chủ đích rõ ràng, còn Xu hướng Lập thể thì rõ ràng là sự biến đổi đi những hình thể của thế giới tự nhiên.[3][4]


Lịch sử Trừu tượng trong buổi bình minh của nghệ thuật và trong một số nền văn hoá.


Nghệ thuật của con người thời kỳ sơ khai: những ký hiệu hằn sâu trong những vật dụng bằng gốm, trên vải, và những bức vẽ trên đá đều rất đơn giản, những hình hình học và những đường thẳng nhằm mục đích trang trí nhất định nào đó[5]. Và ngay ý nghĩa thị giác ở mức độ đó cũng đã có sự liên quan tới nghệ thuật trừu tượng. Người ta có thể thưởng ngoạn vẻ đẹp của nghệ thuật thư pháp Trung hoa - Chinese calligraphy hoặc thư pháp Hồi giáo - Islamic calligraphy mà không cần thiết phải hiểu ý nghĩa của chúng.



Thế kỷ 19



Ba dòng nghệ thuật mà có đóng góp vào sự phát triển của nghệ thuật trừu tượng là trường phái lãng mạn - Romanticism, trường phái ấn tượng - Impressionism và trường phái biểu hiện - Expressionism. Khả năng thẩm mỹ riêng biệt đối với các nghệ sỹ tiến bộ mạnh mẽ trong suốt thế kỷ 19. Sự bảo trợ của giáo hội đã bớt đi và những sự bảo trợ cá nhân từ cộng đồng đã mang lại một phương thức sinh nhai cho các nghệ sỹ lúc đó.



Những tín hiệu đầu tiên về một nghệ thuật mới được bắt đầu bởi James McNeill Whistler trong bức tranh Nocturne in Black and Gold: The falling Rocket, (1872), đã đặt những ấn tượng thị giác gây xúc động lên trên sự miêu tả đối với chủ thể. Quan điểm “objective interest in what is seen” có thể được thấy rõ qua những bức tranh của John Constable, J M W Turner, Camille Corot và từ họ cho đến những người theo trường phái ấn tượng, những nguời vẫn tiếp tực với những bức tranh vẽ ngoài trời - plein air như của Barbizon school. Paul Cézanne đã bắt đầu là một nhà ấn tượng chủ nghĩa nhưng mục tiêu của ông là tạo ra một cấu trúc hợp lý về một thực tại dựa trên quan điểm từ một góc độ riêng biệt khác, với những màu sắc thích hợp trên nền phẳng – đã trở thành nền tảng của một dạng nghệ thuật thị giác mới sau này được phát triển thành trường phái lập thể với George Braque và Pablo Picasso.

Những hoạ sỹ Biểu hiện đã thử nghiệm cả việc sử dụng sơn bề mặt, bóp nặn hình thể lẫn sự cường điệu hoá, với những màu sắc hết sức mạnh mẽ. Những hoạ sỹ Biểu hiện chủ nghĩa thời kỳ đó đã đưa ra những bức tranh đầy xúc cảm vừa là một sự phản ứng đồng thời là sự nhận thức những trải nghiệm đương thời; phản ứng lại với chủ nghĩa ấn tượng cùng với rất nhiều tinh thần thủ cựu của hội hoạ cuối thế kỷ 19. Những hoạ sỹ theo trường phái ấn tượng cũng đã thay đổi một cách quyết liệt bằng sự thay đôi việc nhấn mạnh vào một chủ thể chính - emphasis on subject matter mà thiên về sự miêu tả một trạng thái tâm lý nào đó của sự sống. Mặc đầu những hoạ sỹ như -
Edvard Munch và James Ensor có ảnh hưởng chính từ những tác phẩm thời kỳ hậu ấn tượng - Post-Impressionists , nhưng họ cũng góp phần vào sự hình thành nên nghệ thuật trừu tượng của thế kỷ 20.

Wassily Kandinsky, On White 2, 1923



20th century



Chủ nghĩa hậu ấn tượng với Paul Gauguin, Georges Seurat, Vincent van Gogh và cả Paul Cézanne có một tầm ảnh hưởng rộng lới tới hội hoạ thế kỷ 20 và dẫn đầu cho sự tiến tới của sự trừu tượng của thế kỷ 20. Di sản của những hoạ sỹ như Van Gogh, Cézanne, Gauguin, và Seurat là cốt yếu cho sự phát triển của nghệ thuật hiện đại - modern art. Thời điểm khởi đầu của thế kỷ 20 với Henri Matisse và với một vài hoạ sỹ trẻ tiền lập thể - pre-cubist bao gồm Georges Braque, André Derain, Raoul Dufy và Maurice de Vlaminck đã cách mạng hoá thế giới nghệ thuật của Paris với ‘sự hoang dã’, đa sắc màu, biểu hiện, cảnh quan và những bức tranh hình thể mà giới phê bình gọi là trường phái Dã thú - Fauvism. Ngôn ngữ thô ráp của màu sắc được phát triển bởi Fauves ngay lập tức ảnh hưởng tới những người tiên phong khác trong nghệ thuật trừu tượng là Wassily Kandinsky (xem minh hoạ).

Mặc dầu xu hướng lập thể về bản chất phụ thuộc vào nội dung của đối tượng, nó song hành cùng với Xu hướng Dã thú, dòng vận động của nghệ thuật lập tức mở tung cánh cửa tới trừu tượng vào thế kỷ 20.
Pablo Picasso thực hiện bức tranh theo xu hướng Lập thể đầu tiên dựa trên ý tưởng của Cézanne miêu tả thiên nhiên bằng các hình khối cơ bản như hình lập phương, hình cầu và hình nón. Với bức tranh Les Demoiselles d'Avignon 1907, Picasso đột ngột sáng tạo ra một hình ảnh mới mẻ và triệt để miêu tả một khung cảnh nơi một nhà thổ sống sượng xa xưa với năm cô gái điếm, được thể hiện một cách mãnh liệt làm hồi tưởng hình ảnh của những chiếc mặt nạ của các bộ lạc Châu Phi và sáng tạo mới của ông về Lập thể. Trường phái Lập thể phân tích - Analytic cubism được đồng phát triển bởi Picasso và Georges Braque khoảng những năm 1908 đến 1912. Những biểu hiện rõ ràng nhất của Lập thể phân tích được sinh ra bởi xu hướng Lập thể Tổng hợp, với những tên tuổi là Braque, Picasso, Fernand Léger, Juan Gris, Albert Gleizes, Marcel Duchamp và vô số kể những hoạ sỹ khác vào những năm 1920. Xu hướng lập thể Tổng hợp đặc trưng bởi những bề mặt, chất liệu, những yếu tố mang tính cắt dán, papier collé, và một sự hợp nhất một số luợng lớn các chủ đề nội dung khác nhau. Những hoạ sỹ cắt dán như Kurt Schwitters và Man Ray và những người khác nói rằng dòng tư tưởng bắt nguồn từ Lập thể đóng vai trò là phương tiện để phát triển lên một xu hướng mới có tên gọi là Dada.
Das Undbild, 1919, Kurt Schwitters, Staatsgalerie Stuttgart



Vào năm 1913 thi hào Guillaume Appollinaire đã gọi công việc của Robert và Sonia Delaunay là Orphism (art). Ông ta định nghĩa, một nghệ thuật của những cấu trúc mới vượt khỏi những yếu tố vay muợn từ những gì trông thấy trên trái đất, nhưng đã được sáng tạo trọn vẹn bởi các nghệ sỹ ... đó là thứ nghệ thuật thuần khiết. Một số hoạ sỹ của giai đoạn đầy thách thức này, như Georgia O'Keeffe , là một nghệ sỹ tiên phong đi theo xu hướng trừu tượng, với những bức tranh trừu tượng một cách cao độ không đi theo nguyên tắc của một tổ chức rõ ràng nào và bà cũng không gia nhập bất cứ nhóm nghệ thuật nào trong giai đoạn này.


Georgia O'Keeffe,
No. 13 Special, 1916/1917,
Than chì trên giấy




Blue-Green Music, Georgia O'Keeffe, 1921


Georgia O'Keeffe, Ram's Head White Hollyhock and Little Hills, 1935, The
Brooklyn Museum



Kể từ khi sự trở lại của thế kỷ tương tác văn hoá giữa các nghệ sỹ từ các thành phố chính của Châu Âu và Châu Mỹ đã trở thành những hoạt động rất tích cực, cố gắng tạo ra một thứ nghệ thuật có giá trị tương xứng với những khát vọng mạnh mẽ của chủ nghĩa Hiện đại. Nhiều luồng tư tưởng được thúc đẩy bởi những cuốn sách nghệ thuật, những cuộc triển lãm và những tuyên ngôn nghệ thuật và vì thế rất nhiều chủ đề mở ra để thử nghiệm và thảo luận, và tạo ra nền tảng cho một sự đa dạng về các mô hình trừu tượng. Đoạn trích sau từ 'The World Backwards' đưa ra một số ấn tượng về những mối liên hệ về văn hoá trong thời điểm đó:
“...sự am hiểu của David Burliuk về sự vân động nghệ thuật hiện đại cần phải được khơi dậy, triển lãm Knave of Diamonds exhibition lần thứ 2 trong tháng giêng năm 1912 (tại Moscow) bao gồm không chỉ có tranh ảnh được gửi từ Munich, mà cả một số thành viên của nhóm Die Brücke đến từ nước Đức, từ Pháp có Robert Delaunay, Henri Matisse và Fernand Léger, cũng như Picasso. Trong suốt hai bài thuyết trình của David Burliuk về Lập thể và lên kế hoạch cho một cuộc luận chiến cộng đồng, mà Knave of Diamonds sẽ tài trợ. Ông ta ra nước ngoài vào tháng sáu và trở lại một cách kiên quyết để đối mặt với nhóm Der Blaue Reiter nổi lên qua những bản in trong khoảng thời gian ông ta ở Đức ”
David Burliuk Revolution, 1917



David Burliuk, Chân dung của
Vasily Kamensky



Vào năm 1911 có rất nhiều tác phẩm thử nghiệm khai phá cho dạng nghệ thuật của sự thuần khiết – pure art này Frantisek Kupka đã vẽ một tác phẩm Orphist ,'Discs of Newton' những nghệ sỹ theo lối Rayonnism (rayist – Luchizm) Natalia Goncharova và Mikhail Larionov sử dụng những đường thẳng tuyến tính dạng tia sáng để sáng tạo ra cấu trúc bức tranh. Kasimir Malevich đã hoàn thành trọn vẹn tác phẩm trừu tượng đầu tiên của ông thuộc thể loại Suprematist, 'Black Square', trong năm 1915. Một nhóm nghệ sỹ Suprematist khác Liubov Popova đã sáng tạo ra một Architectonic Constructions và Spatial Force Constructions vào giữa những năm 1916 và 1921. Piet Mondrian cũng tham gia vào bằng ngôn ngữ trừu tượng của ông với những đường thẳng và ngang, những hình vuông đầy màu sắc, giữa những năm 1915 và 1919, trường phái Neo-Plasticism là một trào lưu mỹ thuật mà Mondrian, Theo van Doesburg và những người khác trong nhóm De Stijl hướng đến để tái hiện lại một môi trường mới trong tương lai. Ở Ý chủ nghĩa Vị lai - futurism chịu sự ảnh hưởng của trường Bauhaus pha trộn với sự dẫn dắt đến nghệ thuật trừu tượng với một bảng màu sắt khác biệt ấm áp ví dụ như những tác phẩm của Manlio Rho và Mario Radice.[8]


Âm nhạc
Một số phương pháp hướng tới nghệ thuật trừu tượng đã cố gắng kết nối tới âm nhạc. Âm nhạc là một dạng nghệ thuật tiêu biểu trong việc sử dụng các yếu tố trừu tượng và sự phân chia trường đoạn thời gian. Wassily Kandinsky bản thân ông là một nhạc công, đã thành tựu bởi khả năng biểu hiện phong phú kết hợp màu sắc resounding in the soul . Một ý tưởng được trình bày bởi Charles Baudelaire, rằng tất cả mọi cảm quan của chúng ta đều là phản ứng lại các tác nhân kích thích khác nhau trừ một thứ cảm quan thẩm mỹ ở một mức độ sâu hơn.

Liên quan mật thiết đến điều này là một ý tưởng rằng nghệ thuật có một chiều sâu linh hồn The spiritual dimension và có thể trải nghiệm và nắm bắt ngày này qua ngày khác. Xã hội mang tính thần thánh hoá một cách phổ biến, vốn kiến thức cổ đại với những cuốn sách của Ấn Độ, Trung Quốc trong những năm đầu thế kỷ, chính trong bối cảnh này mà
Piet Mondrian, Wassily Kandinsky, Hilma af Klint và những hoạ sỹ khác đã tạo ra những tác phẩm 'objectless state - trạnh thái phi chủ thể' đã được quan tâm ở một góc độ thần bí về một phương thức để tạo ra một thế giới bên trong chủ thể. Những hình thể phi thời gian mang hình ảnh vũ trụ tạo bởi các hình hình học: hình tròn hình vuông và tam giác đã trở thành những yếu tố mang tính không gian trong nghệ thuật trừu tượng cùng với màu sắc nó trở thành hệ thống nguyên tắc cơ bản xác thực có thể nhìn thấy được.


Nước Nga những người tiên phong

Rất nhiều hoạ sỹ trừu tượng ở Nga - những người theo chủ nghĩa tạo dựng - Constructivists đã tin rằng nghệ thuật không còn là một thứ gì đó tách biệt, ngoại trừ đời sống riêng của nó. Người nghệ sỹ phải trở thành một nhà kỹ thuật, học hỏi để sử dụng công cụ và vật liệu của những sản phẩm hiện đại. Art into life! Là một câu slogan của Vladimir Tatlin, và cũng là của hầu hết các nghệ sỹ theo trường phái tạo dựng khác trong tương lai. Varvara Stepanova và Alexandre Exter và những người khác bỏ rơi nghệ thuật giá vẽ và hướng năng lực của học tới thiết kế sân khấu và nghệ thuật đồ hoạ. Ở một khía cạnh đối lập Kazimir Malevich, Anton Pevsner và Naum Gabo họ cho rằng nghệ thuật về bản chất vẫn thuộc về những động thái của tâm hồn; sáng tạo ra những nơi chốn cho những cá nhân riêng biệt trong thế giới một chung, không liên quan tới cuộc sống duy vật và thực tế. Rất nhiều người trong số họ đối nghịch với những ý tưởng sản phẩm của thế giới duy vật đã rời khỏi nước Nga. Anton Pevsner đã tới nước Pháp, Garbo lần đầu tiên đến Berlin, rồi tới Anh và cuối cùng là Mỹ. Kandinsky nghiên cứu ở Moscow rồi rời khỏi đó để tới Bauhaus. Giữa những năm 1920 một giai đoạn cách mạng (từ 1917 đến 1921) khi những nghệ sỹ đã được giải phóng và tự do trải ngiệm; và tới những năm 1930 chỉ những thứ nghệ thuật hiện thực xã hội-social realist art là được chấp nhận.


Trường Bauhaus

Nằm ở Weimar, Đức thành lập vào năm 1919 bởi Walter Gropius.[10] Nền tảng triết lý là một chương trình giảng dạy về một sụ thống nhất bao gồm nghệ thuật thị giác và nghệ thuật tạo hình từ Kiến trúc đến Hội hoạ cho tới thêu dệt và kính vẽ màu. Triết lý này phát triển từ những ý tưởng của Arts and Crafts movement ở Anh và Deutsche Werkbund. Gồm có các giảng viên là Paul Klee, Wassily Kandinsky, Johannes Itten, Josef Albers, Anni Albers, Theo van Doesburg và Laszlo Moholy-Nagy . Vào năm 1925 trường di chuyển tới Dessau và năm 1932 đảng Đức quốc xã giành quyền điều hành, trường Bauhaus đã bị đóng cửa ngày sau đó. Năm 1937 một triển lãm về sự suy thoái của nghệ thuật - degenerate art, 'Entartete Kunst' chứa đựng tất cả mọi thể loại nghệ thuật mang tính tiên phong bị vùi dập bởi đảng Đức quốc xã. Rồi một cuộc chuyển dịch bắt đầu: không chỉ từ Bauhaus mà nói chung cả Châu Âu; tới Paris, London và Mỹ. Paul Klee tới Switzerlan con rất nhiều nghệ sỹ khác của trường Bauhaus lại chọn Mỹ làm điểm đến.


Trừu tượng ở Paris và London

Trong suốt những năm 1930 Paris trở thành điểm đến của nhiều nghệ sỹ đến từ Nga và Đức, Hà Lan và những thành phố Châu Âu khác bị ảnh hưởng bởi sự bành trướng của chế độ độc tài. Sophie Tauber và Jean Arp đã cộng tác với nhau trong vài bức tranh và một số tác phẩm điêu khắc sử dụng cấu trúc hữu cơ và cấu trúc hình học. Một người Balan - Katarzyna Kobro lại ứng dụng những ý tưởng dựa trên sự chính xác của toán học và nghệ thuật điêu khắc. Rất nhiều thể loại về trừu tượng giờ đây đang trong những nỗ lực thử nghiệm của các nghệ sỹ, phân tích những ý tưởng và những kiểu hoà sắc khác nhau. Một triển lãm gồm bốn mươi thành viên của nhóm Cercle et Carré được tổ chức bởi Michel Seuphor [11]. Bao gồm các tác phẩm của Kandinsky, Anton Pevsner và Kurt Schwitters ở các thể loại trừu tượng lẫn Neo-Plastic (nghệ thuật tạo hình mới).

Đã bị chỉ trích bởi
Theo van Doesburg cho là quá mập mờ một bộ sưu tập ông ta công bố trên tạp chí Art Concret đưa ra một tuyên ngôn định nghĩa về nghệ thuật trừu tượng mà trong đó chỉ có đường thẳng, màu sắc và chất liệu bề mặt là thực sự cụ thể. Abstraction-Création thành lập năm 1931, đưa ra một số quan điểm của các hoạ sỹ, trong khi tình hình chính trị đã trở lên tồi tệ hơn trong năm 1935, và một lần nữa các nghệ sỹ lại tái hợp lại, rất nhiều ở London. Triển lãm đầu tiên của các nghệ sỹ trừu tượng Anh tiến hành tại nước Anh vào năm 1935. Một năm sau triển lãm quốc tế Abstract and Concrete đựoc tổ chức bởi Nicolete Gray bao gồm các tác phẩm của Piet Mondrian, Joan Miró, Barbara Hepworth và Ben Nicholson. Hepworth, Nicholson và Gabo chuyển tới St. Ives group ở Cornwall để tiếp tục những tác phẩm 'constructivist' của họ.



Nước Mỹ: Những năm 50
Trong suốt thời gian bành trướng của chế độ độc tài Đức Quốc Xã trong những năm 1930 rất nhiều nghệ sỹ đã rời Châu Âu để đến Mỹ. Đến những năm 1940 hầu hết những sự vận động chính của nghệ thuật hiện đại như chủ nghĩa Biểu hiện, Lập thể, trừu tượng, siêu thực và dada đều diễn ra ở New York,
Marcel Duchamp, Fernand Léger, Piet Mondrian, Jacques Lipchitz, Max Ernst, André Breton, chỉ là một trong số những người Châu Âu tha hương dừng chân tại thành phố này. Tầm ảnh hưởng của dòng văn hoá dồi dào phong phú đem đến bởi các hoạ sỹ Châu Âu đã được chắt lọc và xây dựng nhờ vào các hoạ sỹ địa phương của thành phố New York. Môi trường tự do ở New York cho phép mọi trào lưu văn nghệ đều có cơ hội phát triển. Một số Galery nghệ thuật Châu Âu đầu tiên bắt đầu được chú ý và những hoạ sỹ trẻ ở Mỹ cũng bắt đầu trưởng thành và đương nhiên, những nghệ sỹ này trở nên trừu tượng một các rõ ràng trong những tác phẩm chín chắn của họ.


Cuối cùng là những nghệ sỹ Mỹ những người làm việc trong một môi trường vô cùng đa dạng về những phong cách và thể loại đã kết hợp nhau lại thành từng nhóm vói những phong cách riêng biệt. Một nhóm nghệ sỹ Mỹ nổi tiếng nhất được biết đến với tên gọi Abstract expressionists và New York School. Ở thành phố New York một nơi với một bầu không khí luôn cổ vũ khuyến khích sự thảo luận và những cơ hội mới cho việc học tập rèn luyện và trưởng thành. Những nghệ sỹ và giảng viên như John D. Graham và Hans Hofmann trở thành chiếc cầu nối quan trọng cho các nghệ sỹ hiện đại Châu Âu mới đến và những nghệ sỹ Mỹ trẻ đang trưởng thành. Mark Rothko, sinh ra ở Nga khởi đầu với những hình ảnh siêu thực vững vàng sau đó bị hoà tan vào những bố cục màu sắc mạnh mẽ của đầu những năm 50. Chủ nghĩa biểu hiện hành động - expressionistic gesture và nghệ thuật của bản thân hành động vẽ tranh đã trở thành một chủ đề quan trọng chính yếu đối với Jackson Pollock và Franz Kline. Trong suốt những năm 1940 những hình tượng trong tác phẩm của Arshile Gorky và Willem de Kooning đã tiến triển vào sự trừu tượng khoảng cuối thập niên này. Thành phố New York trở thành trung tâm, và những nghệ sỹ trên khắp thế giới đổ về, cả từ những thành phố khác của nước Mỹ[14].
Trừu tượng với thế kỷ 21
Khởi đầu thế kỷ 21, trừu tượng, nghệ thuật trừu tượng, hội hoạ đương đại và nghệ thuật đương đại nói chung vẫn tiếp tục trong một vài phương thức tiệm cận nhau, đặc trưng bởi những ý tưởng về chủ nghĩa Đa nguyên pluralism. Sự khủng hoảng của hội hoạ và nghệ thuật đương đại và phê bình nghệ thuật đương đại ngày nay nguyên nhân bắt nguồn là do chủ nghĩa đa nguyên. Không có một sự đồng lòng, không cần thiết có một cái gì đó tiêu biểu cho thời đại. Không có một quan điểm nào chiếm ưu thế; mọi thứ vẫn đang vận động, và vì vậy có một đặc trưng là mọi thứ thật ra đang đứng yên tại chỗ; điều này tạo ra một sự ách tắc về gu thẩm mỹ, không có gì bền vững và không có một định hướng nào rõ ràng và tất cả mọi con đường nhỏ đi tới đại lộ lớn của cái đẹp đều được chấp nhận. Do vậy những tác phẩm đẹp đẽ và quan trọng về nghệ thuật tiếp tục được tạo ra trong một môi trường đa dạng của nhiều loại hình mỹ thuật, và quyền được phán xét dành cho những phẩm chất xứng đáng và xuất xắc.

Những trào lưu vẫn còn được tiếp tục trong thời điểm khởi đầu của thế kỷ 21.



Bước vào thế kỷ 21 sự trừu tượng để lại rất nhiều hình ảnh, đề tài chính của nó là: sự mơ hồ tiềm thức không rõ ràng, sự suy tư trầm mặc thiền định và sự vô tận phi thời gian - the transcendental, the contemplative and the timeless, ví dụ như Barnett Newman và Agnes Martin và các nghệ sỹ trẻ hơn vẫn còn hoạt động nghệ thuật khác. Art as Object như những gì chúng ta đã thấy trong tác phẩm điêu khắc theo chủ nghĩa Tối thiểu của Donald Judd và những bức tranh của Frank Stella vẫn được nhìn nhận dưới một góc độ mới mẻ hơn. Chất thơ, lối trừu tượng trữ tình và cảm quan trong cách sử dụng màu sắc của các hoạ sỹ như as Robert Motherwell, Patrick Heron, Kenneth Noland, Sam Francis, Cy Twombly, Richard Diebenkorn, Helen Frankenthaler, Joan Mitchell và nhiều những người khác vẫn còn tiếp được thử nghiệm.

Có một sự hồi sinh sau chiến tranh những năm 1950 những hình thể của các trường phái như
Neo-Dada, Fluxus, Conceptual Art, Neo-expressionism, Installation art, Performance Art, Video Art và Pop art trở thành những điều đáng chú ý trong một thời đại mà quyền lực nằm về phía người tiêu dùng. Khoảng cách giữa trừu tượng và các nghành nghệ thuật khác sau hai mươi năm cuối của thế kỷ trước đã trở nên không rõ ràng và vì thế nó cho phép mọi người nghệ sỹ có những ý tưởng trên một bình diện rộng lớn hơn.



“...Có vẻ như mọi chuyện vẫn còn nằm ở phía trước..NQH”


Gallery


Barnett Newman, Onement1


Fernand Leger 1919, Railway Crossing



Piet Mondrian, Composition No. 10


Theo van Doesburg Counter-Composition V

Tham khảo
^ Rudolph Arnheim, Visual Thinking
^ Mel Gooding, Abstract Art, Tate Publishing,London, 2000
^ Abstract Art -- What Is Abstract Art or Abstract Painting, retrieved January 7, 2009
^ Themes in American Art -- Abstraction, retrieved January 7, 2009
^ Gyorgy Kepes, Sign, Symbol and Image,
^ Herbert Read, A Concise History of Modern Art, Thames and Hudson
^ Harrison and Wood, Art in theory, 1900-2000, Wiley-Blackwell, 2003, p. 189. ISBN 9780631227083.books.google.com"
^ Serdar Hizli, From Futurism Towards Abstract Painting
^ Camilla Gray, The Russian Experiment in Art, 1863-1922, Thames and Hudson, 1962
^ Walter Gropius et al.,Bauhaus 1919-1928, Museum of Modern Art, 1938
^ Michel Seuphor, Abstract Painting
^ Anna Moszynska, Abstract Art, Thames and Hudson, 1990
^ Gillian Naylor, The Bauhaus, Studio Vista, 1968
^ Henry Geldzahler, New York Painting and Sculpture: 1940–1970, Metropolitan Museum of Modern Art, 1969
Nguồn
^ Compton, Susan (1978). The World Backwards: Russian Futurist Books 1912-16. The British Library. ISBN 0714103969.
^ Stangos, Nikos (editor) (revised 1981). Concepts of Modern Art. Thames and Hudson. ISBN 0500201962.
^ Gooding, Mel (2001). Abstract Art (Movements in Modern Art series). Tate Publishing. ISBN 1854373021.
From Wikipedia, the free encyclopedia

Nhãn:

0 Nhận xét:

Đăng nhận xét

Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]

<< Trang chủ