Nguyễn Hoàng

"...từ trong chính bạn hãy sửa chữa những khuyết tật của dân tộc mình ... Garcia Marque

Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2008

KISHO KUROKAWA - Triết học về sự cộng sinh - Chương 10

Chapter 10
The Symbiosis of Man and Nature
1.Japanese Home are "Temporary Shelters" That Blend Into Nature
2.The Calls of Insects are an Intermediate Zone Between Noise and Music The West
3.Conqueror and Domesticator of Nature From Selling Forests to Sharing Forests The Urban Pastoral,
4.A Garden City of Helicopter Commuters The Communal Space for the Creation of Nature
Chương 10 - Cộng sinh giữa con người và thiên nhiên
1. Quan niệm về ngôi nhà của Nhật Bản - ngôi nhà "nơi cư trú nhất thời " nhưng hài hoà với thiên nhiên.


Trong giáo lý đạo Phật, mọi thứ chỉ mang tính nhất thời, mọi thứ trên thế giới này kể cả thiên nhiên đều thay đổi và chúng ta phải đánh thức sự phù du của cuộc sống thiên nhiên. Con người, sinh vật, cây cối hay phần còn lại của thiên nhiên, ngay cả những tín đồ của Phật giáo phải tuân theo vòng luân hồi của cuộc sống và tất nhiên nhân loại cũng tuân theo vòng luân hồi đó.
Trong bối cảnh đó, lý tưởng mà con người phải đấu tranh không phải để chiến thắng thiên nhiên, cũng không săn lùng những loài vật thân thiết của chúng ta, mà chúng ta sống như một phần của thiên nhiên, tuân theo những quy luật của thiên nhiên. Từ xưa, người Nhật xây dựng nhà cửa của họ như là một nơi cư trú tạm thời và họ chọn một cách sống cộng sinh với thiên nhiên dựa vào tư tưởng, tư duy. Đó là tính nhất thời, Yoshida - tác giả của sự chọn lọc, gọi đó là những cố gắng không vô ích đã nói “ một cái nhà tôi biết từ khi nó là nơi cư trú tạm thời, nhưng thật thích khi tìm thấy một cá nhà mà có tỷ lệ hài hoà và một môi trường trong lành". Những cảm giác khó tả thậm chí là một ánh trăng soi vào một nơi ở yên tĩnh của một người đa cảm, dĩ nhiên là cảm cảm xúc hơn các nơi khác, tuy nhiên một ngôi nhà không theo mốt hiện hành hay trang trí cầu kỳ, sẽ hấp dẫn chúng ta bởi vẻ đẹp khiêm tốn của nó. Những lùm cây thật cổ tích, một khu vườn nhiều cây xanh, tuỳ theo ý thích của người chủ nhân, đem đến sự mê hoặc đặc biệt. Một cái nhà, một mái hiên mở bằng gỗ là những ý tưởng xác định.
Một số yếu tố cá nhân xuất hiện xung quanh, tạo cho khu ở một môi trường luôn vận động. Nhà của đa số người dân lao động, được chăm chút tỉ mỉ, những nơi lạ và hiếm thường được người Nhật và Trung Quốc phô bày ra, thậm chí cỏ và cây trong vườn được cắt xén một cách tỉ mỉ, công phu, cẩn thận, đôi khi khó nhìn và có cảm giác chán nản. Mọi người có thể sống như thế nào tại một nơi như thế trong một thời gian dài. Ghi chú: từ khi ngôi nhà chỉ khá hơn nơi cư trú tạm thời thì không phải mất nhiều thời giờ để trang trí cho chúng.
Văn hoá của người Nhật là văn hoá của cây gỗ, chúng ta luôn đều đặn thay đổi những cấu trúc của cây gỗ trong các công trình của chúng ta do chúng già đi và mục nát. Ngoài ra nhiều công trình của Nhật Bản bị phá huỷ bởi sức mạnh của thiên nhiên như bão lũ, động đất. Cho nên chúng ta phải xây dựng sau mỗi tai hoạ của thiên nhiên. Có lẽ cái cảm giác mà tất cả các công trình không khá hơn những nơi cư trú tạm thời một phần là do những hoàn cảnh như trên.
Trước thời kỳ hiện đại nước Nhật không được kiểm soát như hiện nay, bằng cách củng cố các con đê và nhánh sông trong mỗi hệ thống bằng đá và bê tông. Thật ra, cách tiếp cận là đối diện với chúng. Những nơi hiểm yếu luôn được xây dựng bằng các con đê, nhánh đê để cho lũ lụt chỉ tàn phá ít nhất. Đây là nguyên lý quen thuộc của thiên nhiên như cánh xương đòn, nó hoạt động để nâng đỡ khỏi sự phá vỡ nơi ở của họ.
Gần đây chúng ta đã cho tháo dỡ những ngôi nhà mà cha ông ta đã sống ở đó qua nhiều năm, quê hương của quân trưởng Aichi. Đó là những ngôI nhà bằng tranh, có thể xuất hiện vào giữa thời kỳ Edo. Nó đã tồn taị qua trận động đất Noki năm 1891, nhưng lại chịu thiệt thòi do nhiều nguyên nhân, và khi nó được sửa chữa lại nó lại được tân trang thêm một phần. Thậm chí như vậy, kiến trúc sư của chúng ta chỉ ra rằng: một số vì kèo gỗ được làm từ thời kỳ Edo, được lập kế hoạch, sửa chữa với những đặc trưng công cụ của thời kỳ Edo, thay vào đó một mặt phẳng bình thường. Mái được lợp bằng lá cọ thay đổi luân phiên nhau hai đến bốn năm một lần. Tất cả những điều này chỉ cho chúng ta thấy có rất nhiều công việc trong chuyện bảo dưỡng một ngôi nhà gỗ, tẩm tatami, giấy Nhật, dân tộc mà cuộc sống có liên quan mật thiết với thiên nhiên. Có lẽ chúng ta sẵn sàng chứng nhận sự sụp đổ thoái hoá từ của những toà nhà và những con đê như một phần quan trọng trong nhịp điệu chuyển động của thiên nhiên.
Những ngôi nhà của Nhật Bản luôn thể hiên một xu hướng mạnh mẽ là hoà nhập với thiên nhiên hơn là đối diện với thiên nhiên. Tinh thần nguyên bản của kiến trúc Phòng trà cũng như thế. Đó là một công trình đượch xây bằng cách lắp ghép chúng lại với nhau. Đó là những nhánh cây hay gẫy trong một môi trường nào đó hay chúng có thể là những tấm ván mục nát được lấy ra từ một con thuyền nào đó và kết quả là phòng trà dường như chẳng được thiết kế gì cả, chúng được xây dựng thêm góp phần vào quá trình phát triển của tự nhiên.
2. Âm thanh của côn trùng là ngôn ngữ nằm giữa tiếng ồn và âm nhạc.
Một đặc tính rất quan trọng của nhà ở của Nhật Bản là tính mở của nó, hệ quả của việc xây dựng nhiều ngôi nhà ở Nhật Bản đã cho ra nhiều công trình không cần đến tường. Nếu vượt qua các cửa bằng giấy hay các cửa ở xung quanh nhà được mở ra, thì ngôi nhà hoàn thành một không gian mở, cùng với Engawa như là một không gian chuyển tiếp giữa không gian trong nhà và ngoài vườn.
Các sự kiện kiến trúc Nhật Bản chủ yếu xoay quanh và hợp nhất với cảnh quan, đưa các hòn giả sơn vào trong vườn, một kỹ thuật được biết đến như là “ tái hiện thiên nhiên” hay là Shakkei (một kiểu hàng rào bằng cây sống có chức năng như những bức tường). Tường đá thì không thể nhìn ra bên ngoài nhưng bờ rào lại khác. Bên ngoài có thể nhìn xuyên qua chúng, nó vừa bảo vệ sự riêng tư của mỗi cá nhân, nó vừa có chức năng tạo một môi trường trong lành với thiên nhiên xung quanh chúng. Đấy là sự tách biệt rất riêng mà người Nhật Bản gọi là Seme. Từ “ he” là một từ rất quan trọng để giải thích tính liên tục mà người Nhật cảm nhận thiên nhiên (ầm ì như âm thanh, có thể dịch như thế, nhưng hơi khác nghĩa mà chúng ta thấy ngay dưới đây). Tuy nhiên, “ he” không mô tả thị giác mà mô tả tính liên tục của thính giác. Một từ chỉ âm nhạc trong tiếng Nhật là "Ongaky" nghĩa là thưởng thức âm thanh là một cách khác để phát âm từ “he” cũng như “Gaku” nghĩa là thưởng thức. "Hiro" hay sắc màu của âm thanh nghĩa là những âm thanh trung thực của thiên nhiên, khi mọi thứ không làm việc tốt, và chúng ta giảm được điều gần kề với sự tuyệt vọng, chúng ta sẽ khóc to lên (he oageru).
Trong những nhà hàng hay nhà ở của người Nhật Bản, còn giữ được phong tục đó là giữ côn trùng trong một cái lồng, vì vậy khách có thể nghe tiếng kêu của chúng như nhắc cho họ biết sự tồn tại của bốn mùa trong năm. Với người Nhật Bản, tiếng kêu của côn trùng, một thứ âm nhạc và tự nhiên.. Chỉ một từ đơn “ he” được sáng tạo bởi con người đó là một thứ âm nhạc của tự nhiên, một tiếng kêu của côn trùng. “NC” là một khu vực trung gian giữa âm thanh đơn giản và âm nhạc. Đây chính là là bằng chứng khá rõ chỉ người Nhật thích hơn khi sống với thiên nhiên, xem chúng như những người bạn, luôn gắn kết với chúng.
3. Phương Tây kẻ xâm chiếm và thuần hoá thiên nhiên?
Trái ngược với kiến trúc Nhật Bản luôn hoà hợp, thích ứng với sự biến đổi của môi trường xung quanh, kiến trúc Châu Âu đứng đối lập với thiên nhiên và nhấn mạnh sự độc lập và riêng biệt của chính mình. Những thành phố của Châu Âu tự mình tách khỏi thiên nhiên bởi những thành quách lâu đài. Những bức tường đá ở nhà ở của Châu Âu tách hẳn bên trong và bên ngoài. Chúng càng đơn lẻ sự vững chắc của ngôi nhà, cửa sổ và những cửa chính càng trở lên nhỏ hơn.
Mấu chốt của sự rành mạch và sự chia không gian riêng biệt bên trong và bên ngoài là từ triết học Châu Âu vốn theo thuyết nhị nguyên: con người đối lập với thiên nhiên. Mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên chỉ được khi con người chiến thắng, thuần hoá và sử dụng thiên nhiên. Những khu vườn ở Châu Âu, đặc biệt từ thời kỳ phục hưng đến thời kỳ Baroc, đậm tính chất kỷ hà hình học và nhân tạo, phần lớn là những bãi cỏ rộng, tựa như những tấm thảm xanh lục khổng lồ. Chúng ta có thể mô tả chúng như những mô hình lý tưởng bắt nguồn từ những phiên bản tự nhiên. Con người đi bộ băng qua chúng như là một dấu hiệu chứng tỏ con người chiến thắng thiên nhiên và thuần hoá được thiên nhiên.
Điều gì được giới thiệu cho rõ khu vườn truyền thống Nhật Bản, chúng luôn cố gắng sáng tạo ra cái được gọi là “những phiên bản của thiên nhiên” một hệ quả trừu tượng. Điều thú vị của một ngôi nhà ở Nhật Bản là chúng ta chẳng được cái gì khi đi xuyên qua, chúng mở ra một thế giới ảo trong khi yên lặng ngắm nhìn chúng. Tất nhiên nhiều khu vườn Nhật Bản cho phép đi dạo qua chúng. Nhưng trong đa số các trường hợp đường dạo được giới hạn bởi hình dạng các đường quy hoạch chung của vùng. Thậm chí các khu vườn Nhật Bản đặc biệt xây dựng cho việc đi dạo, chúng được thiết kế sao cho trong quá trình đi dạo có thể nhìn thấy nhiều biển báo dừng lại từ các hướng trong khu vườn.
"... những ngôi vườn Nhật thật đặc biệt với tôi hình ảnh đó chính là sự tích hợp giữa tình yêu và sự sợ hãi mà người Nhật dành cho thiên nhiên, ở góc cạnh đó trông chúng như một nỗi khát vọng - một sự thỉnh cầu!..."
4. Từ việc khai thác rừng đến việc chia sẻ với chúng.
Trong các mối liên hệ với rừng, người Nhật và người Châu Âu cũng chỉ ra nhiều quan điểm khác nhau. Hầu hết những khu rừng Châu Âu được gieo trồng và chăm sóc qua bàn tay của con người. Ở mức độ nào đó, chúng cũng chính là một sự thuần hoá theo phiên bản của thiên nhiên. Hằng năm, chúng được hợp nhất vào đô thị như một phần không gian sống, mà ở đó con người có thể tìm đến những khó khăn của mình. Ở Châu Âu, có nhiều truyện ngắn của trẻ con về rừng: Wiliamtell, Robin Hood, nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn, tất cả đều bắt nguồn từ cuộc sống trong rừng rậm. Trái lại ở Nhật Bản, phần lớn rừng có nhiều cây tùng bách xanh tươi mãi. Phần dưới phủ dày đặc những cây bụi. Có nhiều loại rắn rết nhiều loại sâu bọ khác và ẩm ướt vô cùng. Hầu hết rừng ở Nhật Bản thường nằm trên núi nên rất khó tiếp cận. Và kết quả là từ ngàn xưa, người Nhật có xu hướng mạnh mẽ là rất tôn kính rừng núi, như những người theo học thuyết vạn vật có linh hồn. Chúng được xem như là thần thánh, là nơi thuộc về tâm linh, một vị trí nghiêm trang, những hang của rắn lớn hay rắn trắng. Chỉ có con người sống ở đó thường là những ẩn sĩ hay những quân nhân đào ngũ. Chúng không phải là một bộ phận của cuộc sống hằng ngày nhưng có thể được nhìn thấy từ xa, ở đây thiên nhiên như là một sự ủng hộ về tinh thần.
Mối quan hệ giữa người Nhật với thiên nhiên vẫn là vấn đề cơ bản. Ngày nay điều này vẫn không thay đổi. Các dãy phố bao quanh thành phố Nhật Bản nhưng chúng không hợp nhất vào không gian đô thị. Chúng tồn tại cộng sinh với thiên nhiên như “phong cảnh vay mượn”, người Nhật không vào rừng của họ như người Châu Âu đã làm. Thật ra, vấn đề chính được quan tâm tới là sự bảo tồn thiên nhiên ở Nhật Bản. Từ khi người Nhật không có mối quan hệ mật thiết với thiên nhiên trong cuộc sống hằng ngày của họ, họ không có ý thức về bảo vệ môi trường thiên nhiên. Thái độ cộng sinh của người Nhật ngày trước hoàn toàn đối lập với người Nhật ngày nay. Sự thật là môi trường tự nhiên ở Nhật Bản ngày nay đang dần tới sự diệt vong. Tuy nhiên về mặt thị trường nó cũng không mang nhiều về tính thương mại. Điều đó đã dẫn đến hậu quả là sự thiếu hụt nghiêm trọng sản phẩm lâm nghiệp ở Nhật Bản cũng như đặt những khu rừng Nhật bản trước nguy cơ bị phá huỷ.
Để làm vấn đề đỡ trầm trọng, hơn các địa phương ở Nhật Bản cùng tạo ra một tình trạng tăng trưởng đặc biệt là ở Tokyo. Trái lại nó cũng tạo ra những khoảng trống to lớn nằm ở ngoại ô thành phố , một khi đa số các hộ dân ở thành phố muốn sở hữu nhà ở của chính mình, sự tăng dân số ở trong thành phố đã tạo ra một sự chuyển đổi có quy mô rộng lớn của đất nông trại cũng như đất rừng vào việc xây dựng nhà cửa.
Hiện tượng này chắc không xảy ra ở Châu Âu bởi người Châu Âu đã quen với việc sử dụng môi trường thiên nhiên một cách hợp lý. Từ khi họ hiểu về thiên nhiên và có những kinh nghiệm trực tiếp khi sử dụng chúng, họ cảm thấy dễ hơn khi bảo vệ chúng. Trong tương lai người Nhật phải gạt bỏ những linh cảm trừu tượng thuộc về tinh thần hay sự hoang dã của rừng và liên kết chúng với không gian đô thị, tạo ra những khu rừng mà chúng ta có thể sử dụng chúng một cách hợp lý. Để làm được việc này những người Nhật phải thay đổi bản chất của họ và công tác lâm nghiệp. Cho đến bầy giờ, gỗ xẻ được khai thác rất nhanh và bán giá cao. Những cây sống quanh năm xanh tươi như tùng bách đặc biệt được ưa chuộng. Bây giờ, chúng ta phải chỉ định khu vực gieo trồng những cây hằng năm thường rụng lá và tạo ra những khu rừng sạch sẽ, sáng sủa hơn mà chúng ta có thể phục hồi dần như một nơi giải trí.
Chúng ta phải khôi phục lại sự cộng sinh giữa con người với thiên nhiên trong cuộc sống hằng ngày bằng cách biến đổi chiến lược: từ những khu rừng nào để khai thác cho đến những khu rừng nào có thể chia sẻ với chúng ta trên quy mô toàn quốc.
Những công viên ở Frankfurt hay Resselodf thì đầy những chim chóc và những côn trùng khác. Sự cộng sinh ở các thành phố này với thiên nhiên, với những ga, những đại lộ, đường hầm gần bên cạnh, là một tầm nhìn đầy ấn tượng. Những nơi như thế, những nơi mà con người và thiên nhiên có thể tồn tại trong sự cộng sinh, phải được xây dựng trong các thành phố của chúng ta.

5. Sự cộng sinh giữa con người với thiên nhiên.
Chỉ là sự cộng sinh với cây cối, chim chóc, hay muôn thú , sâu bọ. Mọi thứ do con người tạo ra, thời gian qua đi, đều trở thành một phần của thiên nhiên, không những chúng ta tạo ra những hồ, kênh, rạch hay những khu rừng nhân tạo hay ngay cả chúng ta cũng trở thành một phần của thiên nhiên. Thuyết nhị nguyên cho rằng Chúa tạo ra thiên nhiên, và những cái gì mà do con người tạo ra đều thuộc về nhân tạo vì vậy chúng ta sẽ đối lập với thiên nhiên trong thời gian tồn tại lâu dài.
Hầu hết người dân Nhật Bản đều lớn lên tại miền quê, phần lớn dân cư trú tại thành phố là những người sinh ra ở nông thôn và nhập cư vào thành phố. Những ký ức về miền quê vẫn luôn thân thương và mạnh mẽ đấy chính là quê hương, cái mà họ nhìn thành phố như là một cái gì đối lập với quê hương. Nhưng ngày nay 80% dân số Nhật Bản sinh ra tại các đô thị. Quy luật tự nhiên ngày nay hầu hết trẻ em sinh ra và lớn lên tại các đô thị không có những kỷ niệm lại càng không có những kinh nghiệm về thiên nhiên. Khi bạn hỏi một vài đứa trẻ rằng những loại côn trùng khác từ đâu đến, chúng sẽ thích thú trả lời bạn rằng: “ Những con vật cưng này ở những cửa hàng tạp phẩm”.
Trong những trường hợp như vậy điều đó chẳng đáng ngạc nhiên khi các thế hệ hậu sinh xem những kinh nghiệm ở thiên nhiên như là một phần của thiên nhiên như là bê tông là một phần của trái đất. Mọi việc có thể tốt hơn theo thời gian khi thành phố và các công nghệ của nó trở thành một bộ phận của tự nhiên. Tôi có cảm giác rằng thế kỷ XXI sẽ nhìn thấy một thế hệ cộng sinh động giữa đô thị và thiên nhiên, đó là sự gợi ý tại Sontay “làng trong thành phố” và một tầm nhìn đến tương lai trong “ Thành phố vườn” của Frank Loyd Wright. Các khu cây xanh này đan chéo nhau trong đô thị như những đường bay trực thăng của những người đi hàng tháng. Trong cả hai trường hợp chúng ta tìm thấy sự chuyển động từ thành phố đến thiên nhiên hay nghe lại chúng cùng phát triển song song. Bằng cách này Edo là một thiên nhiên hoàn toàn nhân tạo. Noboke Kawaroe trong cuốn sách “ Tokyo no denfuki” - (Sự xuất hiện nguyên bản của Tokyo) liên hệ rằng Edo là một thành phố không có không gian không công cộng nhưng nó được điểm xuyến bởi các chợ cây.
Những công dân thành phố nuôi dưỡng chăm sóc các chậu cây cảnh (Bonsai) của mình và các đường phố. Các đường đi dạo thì phủ đầy những hoa bầu, hoa bí và chúng nở hoa rực rỡ vào buổi sáng. Có hai người dân của thành phố Edo cùng chung một quan điểm giàu trí tưởng tượng rằng: thiên nhiên có thể cảm nhận trong các thành phố nhân tạo như các chậu cây cảnh Bonsai của họ. Tính hình thức của các thành phố nơi con người sống cộng sinh với kỹ thuật, động vật, chim chóc, côn trùng, hay những cây Bonsai được trồng trong chậu và cả những khu rừng nhân tạo nữa, tất cả sẽ xuất hiện trong một tương lai không xa.

6. Không gian công cộng với sự sáng tạo của thiên nhiên.
Sự bảo vệ môi trường phải nhiều hơn những tiếng kêu gào về việc bảo tồn những khu rừng ở miền quê. Nó cũng góp phần tạo ra những khu rừng mới ở Tokyo. Như trường hợp của trung tâm bảo vệ quốc gia ở Anh quốc, với các hoạt động như bảo vệ môi trường, bảo tồn văn hoá ở Châu Á hay Mĩ đều phải bắt đầu từ những đóng góp cá nhân dành cho việc bảo vệ môi trường thiên nhiên hay môi trường văn hoá của chúng ta. Để bảo vệ những thắng cảnh chính của thành phố, những giá trị văn hoá, những giá trị cổ, vẫn cần phải có những hoạt động bảo tồn bắt đầu từ những đóng góp như trên nhưng nhỏ hơn sau đó mới phát triển thành quy mô lớn. Tuy nhiên ở Nhật Bản những điều này thường bắt đầu từ trên xuống, với một nhóm chuyên gia có kinh nghiệm bảo tồn và thiên nhiên và các công trình văn hoá, chống đối một cách mạnh mẽ cái gọi là sự phát triển. Nhưng họ không bỏ công sức nhằm làm tăng ngân quỹ cần thiết cho sự bảo tồn, mà họ yêu cầu bảo vệ các không gian xanh trong thành phố, nông trại hay đất rừng. Nhưng nông trại là nơi cung cấp gạo và rau, rừng là nguồn cung cấp gỗ xỉ và đồ gỗ. Tại thời điểm mà các khu công nghiệp đang chịu lỗ lã và gặp nhiều rắc rối, thì thật thiếu trách nhiệm khi nói rằng các nông trang cũng các khu rừng đáng được giữ gìn mà không tính đến một sự giúp đỡ nào của kinh tế, các hình mẫu mà làm cho các nông trang hay các khu rừng có tính thương mại và có lợi ích kinh tế hơn.
Chúng ta không thể đơn giản tin tưởng vào môi trương thiên nhiên mà tổ tiên đã cố gắng để lại cho chúng ta. Trong sự trao đổi để phát triển thì tại những nơi cần phát triển chúng ta cần phải làm việc để tạo ra cái mới, thiên nhiên nhân tạo nhằm để lại cho con cháu chúng ta. Ví dụ tại Tokyo, đền thờ Meiji chiếm một không gian lớn đất rừng. Nó gần như rừng nguyên thuỷ nhưng thực ra là rừng nhân tạo, được trồng chỉ cách đây 70 năm. Chỉ cần một thời gian ngắn của thế kỷ này, con người có thể tạo ra một khu rừng như rừng nguyên sinh. Khu rừng không được nhìn nhận như một vị thánh thần hay là một nơi linh thiêng mà thiên nhiên ở đây được xem xét như một không gian sống của thành phố.
Trong kế hoạch tái thiết thành phố Tokyo lần thứ X mà tôi sẽ miêu tả chi tiết ở chương XI, tôi đã đề xướng tạo thành ba khu rừng ở bên trong thành phố Tokyo, mỗi khu khoảng 10 nghìn ha. Những khu rừng này được gợi ý từ Musashino, khu rừng này mà sự thật đã là một lần tồn tại trong vùng Kanto. Chúng là những khu rừng mà chùng ta có thể sử dụng, trộn lẫn, các khu rừng thay lá hàng năm. Rừng thay lá có thể kết hợp các chức năng của chúng cũng như giữa hai dòng suy nghĩ chính vì truyền thống cây gỗ của Nhật Bản: các cây linh thiêng, luôn tìm thấy những miếu thờ Shito ở các làng quê Nhật Bản và những cây gỗ làng được trồng xung quanh nhà nhằm bảo vệ ngôi nhà khỏi sự tàn phá của bão lớn.
Cách nghĩ này cũng thích đáng với sự cộng sinh công cộng và không gian cá nhân trong môi trường đô thị. Ngày nay ở thành phố, đó là tính riêng tư, sở hữu chúng là những cá nhân hay những xí nghiệp thương mại, các không gian công cộng như đường phố hay công viên, được xây dựng và bảo vệ bằng quỹ phúc lợi. Nhưng trước đây ở Nhật Bản đã có một khu vực trung gian giữa quần chúng và riêng tư: đó là không gian công cộng.
Trong công nông nghiêp quyền lợi về nước cũng như các quyền lợi chung khác đều là một phần quyền lợi của công cộng, cái mà tất cả các cư dân trong làng đều được chia sẻ như nhau. Như chúng ta đã thấy ở Tokyo đường phố thuộc về cộng đồng, được điều hành bởi Chogumi, các tổ chức thuộc quận, cho phép tạo nên những ngôi nhà nằm trên cả hai mặt đường. Tại một quận của thành phố Edo, các khu nhà được đặt cạnh nhau, cả bốn mặt đều là những mặt tiền hẹp so với những con đường. Quận này cho phép để lại những không gian mở đằng sau ngôi nhà. Saisho là khu tập thể , miting cũng là một thể loại mang tính cộng đồng.
Thành phố Nagoya thì đưa ra một cách trình bày chung nhất của thời kỳ Edo. Tại mỗi quận, cũng như Edo, chia ra các dải đất dài và hẹp trên đường phố chính. Vì không gian hẹp nên các khoảng không gian trống được xây dựng đằng sau các miếu thờ, ngôi nhà hay các khoảng sân rộng với một con đường hẹp dẫn chúng tới thành phố. Những con đường này được coi là Kansho, một nơi nhàn rỗi và cũng là không gian công cộng.
Ngày nay khi chúng ta cởi bỏ những thuộc tính của chính mình thì chúng ta lại bị phụ thuộc vào sự điều hành của thành phố, các quận trưởng, vì vậy chúng ta không có sự khuyến khích để bảo vệ trông nom những con đường này. Khi chúng bẩn thỉu chúng ta không có sự khuyến khích bảo vệ mà chỉ có thể gọi văn phòng trông nom và than phiền nhưng tự bản thân chúng ta thì không muốn làm cho chúng sạch sẽ hơn. Tuy nhiên vào những ngày lễ, mọi người luôn giữ cho chúng sạch sẽ. Chúng cũng là nơi trẻ con chơi đùa mà không cần sự quan tâm lo lắng của bố mẹ về sự an toàn của chúng.
Không gian công cộng là một khu vực trung gian giữa thuộc tính riêng tư và thuộc tính công cộng. Hoạt động ở trung tâm bảo tồn quốc gia ở Anh quốc chính là bảo vệ môi trường và các giá trị văn hóa cũng được giải thích cho rõ việc làm nhằm bảo vệ thuộc tính công cộng. Gần đây ở Nhật Bản các tín hiệu như trên cũng được động viên khuyến khích, giữa chúng có một mối quan tâm đó là niềm tin của quốc gia Nhật Bản và những động cơ cơ bản nhất nhằm bảo vệ các khu rừng nguyên thủy tại Shiretoko hay Hokkaido.
Trong quá trình đổi mới và tái thiết của chúng ta trong thế kỷ XXI, chúng ta phải làm sống lại các giá trị mang tính công cộng, đó là khu vực trung gian giữa thuộc tính quần chúng ở nhiều hình thức khác nhau. Những điều này sẽ được liên kết để tạo thành các môi trường tự nhiên trong thành phố. Chúng là những chiếc túi nhỏ của thiên nhiên, ngay cả một mái hiên nằm phía bên dưới tòa nhà. Hoặc khi tôi thiết kế văn phòng điều hành của ngân hàng Fukuoka. Chúng là các không gian riêng nhưng chúng có thể mở đến với mỗi người. Chúng ta cần phải tạo nên sự đa dạng của các phương tiện nhằm đảm bảo sự cộng sinh giữa con người với thiên nhiên trong thành phố trong hoạt động hàng ngày. Ở Nhật Bản trước đây, việc bắt chước phong cảnh là một phương pháp tuyệt vời để đạt được sự cộng sinh với thiên nhiên. Điều này có nghĩa là hợp nhất thiên nhiên xung quanh với các tầm nhìn về thiên nhiên vào trong cuộc sống của chính mình. Lâu đài Shugakuin là một ví dụ nổi tiếng về kỹ thuật này. Đây là một phương pháp có hiệu quả khi mật độ dân số xuống thấp và nhiều thắng cảnh về văn hóa còn lại gần vùng thành thị.
Nhưng ngày nay chúng ta không hoàn toàn bắt chước thiên nhiên. Tại những nơi tụ tập, có nhiều sự bắt chước một cách tùy tiện vẻ đẹp của thiên nhiên. Nguyên tắc chính của việc bắt chước phong cảnh thiên nhiên là luôn giữ trong tâm trí rằng mình là một phần của thiên nhiên và ai đó đang nhìn mình. Mặt khác chúng ta phải quan tâm đến vấn đề mà chúng ta mượn, bắt chước những gì chúng ta được bắt chước. Chú thích: Yoshida Kendo, trong bài viết “sự cố gắng không vô ích” được giới thiệu bởi Donald Keence trường đại học Columbia. Kendo (1283- 1352 ), lúc đầu phục vụ hoàng đế Gonijo như một nhà thơ và một trong những trụ cột của triều đình, nhưng vào khoảng năm 30 tuổi, anh ta bỏ cảnh sát để trở thành nhà chính trị. Vào năm 40 tuổi, ông soạn cuốn “ những sự cố gắng không vô ích”, trong đó ông ta biểu thị khả năng cảm thụ thẩm mĩ của người Nhật. Kendo có một hiểu biết rộng về tôn giáo, quí tộc... trong các thành viên của lớp Samurai. Trong khi công việc của ông ấy đang chuyển sang những giá trị mới, nó cũng cảnh báo những sự biến đổi sẽ sớm xuất hiện trong xã hội Nhật Bản. Sự nhạy cảm mà Kendo công thức hóa trong cách sống của mình, kết hợp sự yên tĩnh trong cuộc sống được miêu tả trong The Pillore mang màu sắc thiền học mạnh mẽ trong truyện ngắn "10 bàn chân vuông" định nghĩa ý thức thẩm mĩ của thời kỳ mới. (Hồ công Huy - Một người bạn đất Quảng Trị)

Nhãn:

0 Nhận xét:

Đăng nhận xét

Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]

<< Trang chủ