Nguyễn Hoàng

"...từ trong chính bạn hãy sửa chữa những khuyết tật của dân tộc mình ... Garcia Marque

Thứ Ba, 15 tháng 4, 2008

Lý thuyết cấu trúc Thành phố MIT Spring 2004 - Lecture 10

Theory of City Form, Spring 2004
Lecture 10 - Vienna and Barcelona
Handout : The seven sectors of the Vienna Ringstrasse from the Danube and back, and an aerial photo of Cerda's Ensanche and the old city in Barcelona.




Vienna
Những mô hình biến đổi ở đây nhỏ hơn những thành phố đã trình bày trên đây rất nhiều, một mặt là trường hợp của Vienna, một con đường độc nhất liên quan đến việc thay đổi cấu trúc thành phố bằng các sử dụng không gian những thành quách dư thừa của nó- using the space of its redundant walls, tráI lại, trong trường hợp của Barcelona, một con đường phổ biến hơn rất nhiều là sự bành trướng của thành phố bằng cách chiếm đóng và mở rộng chia tách đất đai bên ngoàI lõi thành phố trung tâm.
Cũng như các thành phố nằm về phía Tây, chúng được yêu cầu một sự củng cố vững chắc và quy mô rộng lớn hơn. Vienna, một thành trì trong thời gian dàI chống lại sự đe doạ của Ottoman, đã bị mất đI cơ sở căn bản cho những thành quách và sườn dốc glacis xunh quanh pháo đàI của nó, đã tìm thấy ở trong không gian này vị trí xây dựng cho tầng lớp trung lưu của nó gần đây được trao quyền hợp pháp để hành động. Thành phố cũ thống trị bằng tôn giáo và hoàng gia; với những người theo chủ nghĩa tự do mới, không có một nguyên tắc gì trong thành phố mới được là "political bastion, economic capital and radiating center for their intellectual life." của họ. Ringstrasse đã thoả mãn tham vọng này bằng sự bao quanh thành phố cũ từ sông Danube với những vùng hoạt động liên tục - continuous regions of activity : nhà kho và văn phòng gần dòng nước, một trung tâm tàI chính, trường đại học, một tổ hợp nghị viện/hội đồng thành phố/tư pháp/phủ tổng tổng thống, khu bảo tàng, âm nhạc thành từ khu quay lưng ra sông. Ringstrasse không có ý định bắc cầu ra bên ngoàI thành phố: một đại lộ lớn trong bản thân nó đã cấu thành hạng mục mà "carry the citizen from one building to another, as from one aspect of life to another." Nếu các kiến trức sư của tầng lớp trung lưu không thể làm được, các kiến trúc sư của chính quyền sẽ tự làm qua các lựa chon thích đáng trong quá khứ. Kiến trúc Gothic dành cho công xã tự do của hội đồng thành phố, Baroque dành cho cảm hứng mỹ học của nhà hát, Kiến trúc phục hưng sự giảI thoát về văn hoá dành cho các trường đại học, và kiến trúc Hylap dành cho nền đân chủ của nghị viện. Những căn hộ được xây dựng là chỗ ở nhiều gia đình, gruppenzinhaus, mô hình những cung điện quý tộc với khuôn viên tầng một dành cho cửa hàng. Giống nhưng những nơI khác sự nâng cao chất lượng diện mạo đô thị song hành với sự cảI tiến về khoa học kỹ thuật, sự khơI dòng sông Danube, bày ra hệ thống xe lửa đô thị và xây dựng những bệnh viện thành phố đầu tiên. Kết nối với hoạt động tích trũ bất động sản rộng lớn vớĩ sự gia tăng những hoàn cảnh ăn ở kinh khủng của sự nghèo đó dẫn đến sự thắng lợi của những người theo chủ nghĩa xa hội của phong trào “ red Vienna” và sự phát minh ra các thể loại nhà mới, the hof , những ngôI nhà xung quanh một khu đất hay diễn ra cảnh gay gổ đã minh hoạ cho tình trạng của công nhân trong thành phố . Câu truyện của Vienna, ngoàI ra bao gồm cả một giai đoạn thành tựu văn hoá vĩ đại cho tới nay, dựng lên một lý thuyết tương phản về urban "goodness" giưã Camillo Sitte ở một mặt, sự đấu tranh cho nghành nghề thủ công và Wagnerian gesamtkunstwerk, và những hình ảnh đô thị ở quy mô nhỏ gây ấn tượng mạnh, chống lại các nhà đô thị và các kiến trúc sư lớn, Otto Wagner, người nhìn nhận thành phố một cách hiệu quả, đắt đỏ, sự bành trướng, và open-ended, được phụng sự bởi những ích lợi của công nghệ hiện đại - beyond including one of the greatest periods of cultural achievement ever, sets up the contrasting theories of urban "goodness" betweenCamillo Sitte on the one hand, the champion of craft and Wagnerian gesamtkunstwerk, and small-scale picturesque urban morphology ies, versus the great architect and urbanist, Otto Wagner, who saw the modern city as efficient, expansive, and open-ended, served beneficially by modern technology.
Barcelona
Barcelona là một thành phố từ thời kỳ trung cổ với thành luỹ bao quanh và là một trung tâm của phát triển công nghiệp ở vùng Catalonia. Nhưng mà điều kiện đông đúc của nó – khỏang chừng một số người đã chết vì dịch tả vào năm 1830 giống như Paris - đòi hỏi mở rộng đã tới trong một cấu trúc đã giành được chiến thắng trong một cuộc thi vào năm 1853 bởi các kiến trúc sư của thành phố. Không có sự đồng thuận bởi hoàng gia, kế hoạch mở rộng rơI vào tay một kỹ sư, Cerad, kế hoạch của ông được xây dựng ngay sau đó. Quy hoạch được nhìn nhận dựa trên một hệ thống cấu trúc mạng lưới các yếu tố 113 mét vuông được chi phối bởi ordenanzas và trazado trong một mô hình kéo dàI hướng ra ngoàI thành phố cũ. Những góc của mỗi block được cắt một góc 45 độ tạo thành một quảng truờng nhỏ giữa các block, và mỗi block có một trung tâm mở có lẽ đựoc sử dụng như một không gian mở cho dân cư nhưng qua thời gian nó đã được sử dụng theo nhiều cách khác nhau. Một đại lộ chính, Passeig de Gracia, kết nối từ Ramblas trước đây cho tới khu đồi, và một đại lộ lớn theo một đuờng chéo dành giảI quyết vấn đề về giao thông khi muốn đI qua thành phố. Ensanche, khu vực được Cerda thiết kế được biết đến như một sự quan tâm cao độ đến việc xây dựng cấu trúc đô thị trên một mặt bằng trống trảI và cũng là một khớp nối tốt bằng chính kiến trúc của nó - The Ensanche, as the Cerda-designed area has come to be known, is highly regarded as an urban structure built on vacant ground and as well articulated as if it were architecture. It has served as host to the buildings of Gaudi, for the Casa Mila apartment block which makes full use of the diagonal corner as a facade, and for the formidable Sagrada Familia. Năm 1932 nó là đối tưọng của những người theo chủ nghĩ hiện đại là Le Corbusier và GATCPAC, và trong năm gần đây nó là đối tượng của rất nhiều cuộc đổi thay, bởi những người đem lại cuộc phục hựng đô thị và những ngưòi xuất hiện bởi những đòi hỏi của Olimpic 1992. Quy hoạch của Cerda là một sự biến chuyển trên cơ sở sự mở rộng ra bên ngoàI từ từ trung tâm lich sử mô hình xuất hiện thưòng xuyên qua những quy hoạch của người Châu Âu thế kỷ 19 như quy hoạch của Kleanthes Schaubert cho Athens (1833), quy hoạch của Antonelli cho Turin (1852). Quy hoach của Castro cho Madrid (1860) và quy hoạch của Trotti cho Bari (1867). Nó cúng là một cách thức được ưa chuộng cho sự mở rộng của những thành phố nhỏ trên toàn Chân Âu.



Reading:
Calvet. Barcelona: The Transformation of Urban Form. pp. 6-30.
King. "A Century of Urban Development in Rome."
Loukopoulos, D and P. "Athens 1833-1979."
Schorske. Fin-de-Siecle Vienna. pp. 24-110.
Sitte. City Planning According to Artistic Principles. pp. 141-159.
Tafuri, and Dal Co. Modern Architecture. pp. 191-197.
Waissenberger. Vienna 1890-1920. pp. 9-30, 65-97.

Nhãn:

0 Nhận xét:

Đăng nhận xét

Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]

<< Trang chủ