Nguyễn Hoàng

"...từ trong chính bạn hãy sửa chữa những khuyết tật của dân tộc mình ... Garcia Marque

Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2008

Nhà cho thế kỷ 21- Grofrery London

NHÀ CHO THẾ KỶ 21
Grofrery London

Trong tất cả các hình thái kiến trúc, ngôi nhà chịu ảnh hưởng văn hoá lớn nhất trong thời điểm hiện nay. Vậy chúng ta chờ đợi gì trong ngôi nhà của thế kỷ 21. Điều khác biệt gì so với những ngôi nhà trong thời điểm này và trong tương lai. Một xu hướng mới được ưa thích, đặc biệt là hình dáng của ngôi nhà tại thời điểm này và trong tương lai là sự phát triển của nền tảng kiến trúc phương Tây thế kỷ 20. Lịch sử kiến trúc thời kỳ này xoay quanh những dự án cho “ngôi nhà trong tương lai” thường được chỉ ra một cách đầy thuyết phục về tiềm năng của kiến trúc trong việc cải thiện đời sống con người bởi những nhà không tưởng. Và điều kiện cho sự cải tổ này là công nghệ và tính khả thi. Kể từ thời đại của trường phái Bauhaus khi Walter Gropius và các đồng đạo đưa ra một kiểu nhà ở công nghiệp “ Am Horn” thì công nghệ đã được coi là một nhân tố quan trọng đầy sức mạnh. Kiểu dáng kiến trúc và thiết kế nội thất theo đó cũng phát triển một cách tương thích với những thay đổi của công nghệ, thúc đẩy sự phát triển của ngôi nhà trong tương lai về mặt kiểu dáng và chủng loại. Sau chiến tranh thể giới 2, quan điểm này được bùng nổ bởi ánh sáng tương lai của việc phục hồi nền kinh tế thế giới và việc phát triển các công nghệt tiên tiến.

Với tác phẩm “Điều gì đã khiến cho ngôi nhà của bạn ngày nay trở nên quá khác lạ và lôi cuốn như vậy” Richard Hamilton đã bộc lộ một cái nhìn nhạo báng về một thế giới nội tại mới (new domestic world). Tác phẩm đó được biết đến sớm nhất như một thể loại nghệ thuật dân gian hiện đại, được in vào tấm áp phích lớn ngay trước lối vào của cuộc triển lãm “ đây là tương lai” tổ chức tại phòng trưng bày Whitechapel tại London năm 1956. Nó có thể được xem như những “mảnh vỡ” của văn hoá dân gian từ thế giới của quảng cáo và sự quảng bá về chủ nghĩa tiêu thụ. Bức tranh này tìm kiếm một sự khởi đầu mới, một tương lai đã được cứu vớt bằng sự hứa hẹn với những phát minh và công nghệ.
Cuộc triển lãm này được tổ chức tại London, một trong những trung tâm nổi tiếng về sản phẩm văn hoá được quy tụ từ nhiều nước Châu Âu hoặc Châu Mĩ. Tại cuộc triển lãm Daily Mail Ideal Homes cũng ở London 1956, Alison và Peter Smithsons với tác phẩm “ NgôI nhà của tương lai” dự án hướng tới năm 1980 thì hoàn toàn là những ngôi nhà khép kín kiểu thành thị tạo ra những tiện ích tốt nhất cho việc sử dụng những công nghệ mới, vật liệu mới và hầu hết các trang thiết bị tiên tiến bên trong. Nó thực sự được xem như một nền tảng, cở sở trưng bày những trang thiết bị tối tân, tiên tiến nhất hiện nay. Ngôi nhà là một nơi tích hợp một loạt các sản phẩm giống hệt như một chiếc ô tô, một chiếc ô tô biểu trưng của khoa học công nghệ ứng dụng trong cuộc sống, một điển hình của lối sống tiêu thụ, gắn liền với sự lỗi thời theo thời gian.
Mục tiêu của Smithson là những người vô sản, đó là dự án tạo ra những tiến bộ sớm nhất có thể sử dụng được ngay dành cho tất cả mọi người, tiếp nối tinh thần của cuộc đấu tranh không tưởng của những người theo trường phái kiến trúc hiện đại trước đây. Có vẻ như chính sự phân bố đông đúc của dân cư đô thị và sự hiện diện của thế giới cộng đồng trên đường phố làm giảm đi xu thế hướng nội trong chính nội tại của đô thị, mà chìa khóa để tạo nên hình thức đặc trưng đó chính là sự liên tục của các diện phẳng (continuous surface), ý dự định khởi đầu đó được xây dựng từ các vật liệu mới là chất dẻo chịu lực nhưng do giới hạn về thời gian chúng được xây dựng bằng gỗ dán nhiều hơn. Hình thức cấu trúc đó bao hàm được cả kho, đồ đạc và các khu phụ trợ, và những bề mặt liền một mảng của chúng cho phép đánh giá ngôi nhà như một mẫu vật chỉnh thể, như sự xác định rõ ràng một sản phẩm có nguồn gốc từ những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật.
“Ngôi nhà của tương lai” đã chứng minh cho khách tham quan một vẻ thông dụng tiện lợi của nó mặc dù Jacques Tati đã đả kích nó trong một bộ phim của ông ta vào năm 1958, “Mon Oncle” Vở kịch dàn cảnh một ngôi nhà trong tương lai nơi mà mọi thứ được điều khiển bằng máy móc và các nút bấm. Trong bộ phim này J.Tati diễn tả sự đam mê công nghệ hiện đại và đặt câu hỏi về nguồn gốc động lực của nó thông qua một loạt tình huống hài hước giữa con người và máy móc.



Về mặt cá nhân cũng giống như vậy Richard Buckminster Fuller không có một sự hoài nghi gì về vấn đền này. Ông ta đã thúc đẩy những tiềm năng về công nghệ để hỗ trợ vấn đề nhà ở từ cuối những năm 79 của thế kỷ 20. Với những ngôi nhà siêu nhẹ “ Dymaxion” dựa trên những nguyên tắc thiết kế của nền công nghiệp chế tạo máy bay mới nhất, được đúc sẵn và lắp đặt cùng với một khí cầu có thể điều khiển được. Phong cách của Fuller rất được yêu thích vào những năm 1960, đặc biệt là ở Úc nơi mà ảnh hưởng của ông được bao trùm lên nhiều thế hệ kiến trúc sư. Vào năm 1966 ông là khách mời của một cuộc hội thảo tổ chức cho sinh viên tại trường đại học Perth, sau đó một làn sóng đi theo phong cách của ông nổ ra trên toàn nước Úc.
Tổ chức Achigram ở London theo chân Smithson vào những năm 1960 với quan điểm tiếp cận công nghệ đã phỏng đoán về một viễn cảnh đô thị trong tương lai được nhìn nhận thông qua một cấu trúc văn hoá quần chúng. Kết quả mang lại những hình ảnh không không thể nào quên, viễn cảnh về những đô thị đi bộ “Walking City”, “plug in city” và “Sin Cities”. Những năm 1960 cũng là thời điểm của các cuộc khám phá vũ trụ, và chắc chắn rằng ở một khía cạnh còn tranh cãi thì kiến trúc cũng đã là một ngành phản ứng nhanh nhạy với những sự phát triển của thời đại đến như vậy. Dẫu sao thì rất nhiều kiến trúc sư theo sau giai đoạn này cũng tin rằng nỗ lực chính thống hoa kiến trúc và để kiến tạo nên những cấu trúc kiến trúc thông qua các nguyên tắc của các ngành khác như khoa học và xã hội học sẽ dẫn đến một sự xói mòn các nguyên tắc kiến trúc. Đã có những sự khảo sát tỉ mỉ cấu trúc thuần tuý đó xác nhận lại những đặc biệt của chúng để đưa lên thành nguyên tắc, nhưng chính sự theo đuổi tự do duy ýý chí này đã làm phân rã mối quan hệ tiềm năng giữa khách hàng và người làm nghề và những ảo vọng về một kiến trúc duy ýý chí tự thân nó vẫn tách ra khỏi những khuôn mẫu thông thường đã được thiết lập, đặc biệt ở Châu Âu và Châu Mĩ.
Tiếp theo sự sụp đổ của CNCS, chủ nghĩa toàn cầu hoá gia tăng và kéo theo sự ảnh hưởng về mặt chính trị của nó trên toàn cầu, thì các kiến trúc sư ngày nay không còn tin tưởng lắm về tiềm năng của kiến trúc trong việc làm thay đổi xã hội bằng thế hệ kiến trúc sư thời kỳ đầu thế kỷ 20. Họ không quyết tâm lắm trong việc khẳng định sức mạnh và khát vọng của mình mà chú trọng ý hơn tới sự làm việc độc lập qua các kiểu dáng mà họ có thể điều chỉnh và đI theo ý ýthích riêng tư. Họ cũng nhận ra tính quảng đại quần chúng của kiến trúc và cho rằng những kiểu dáng, lý thuýyết đơn nhất là không thể xảy ra.
Trong một quyển sách của Deyan Sudjie có tựa đề “ Gia đình: ngôI nhà thế kỷ 20” đã nhận định “ …cho đến cuối thế kỷ 20 kiến trúc bên trong ngôi nhà vẫn chưa được chú trọng lắm, không lâu nữa nó cũng không nhất thiết phải theo trường phái nọ hay trường phái kia?” Một nửa thế kỷ đã trôi qua sau triển lãm “ Ngôi nhà của tương lai”, kiên trúc của ngôI nhà thế kỷ 21 định hình ra sao?, nó liên quan thế nào đến sự phát triển về công nghệ của thế kỷ trước, giá trị nào sẽ nổi bật lên trong kiến trúc ngôi nhà thế kỷ 21?. Đây là những câu hỏi làm trọng tâm cho quyển sách “The house of the 21 century ”. Những câu hỏi ban đầu được đưa ra ở Úc, được nhận định như một khía cạnh ngoại vi, bề mặt của những sản phẩm văn hoá toàn cầu, nơi mà văn hoá được tiếp nhận và điều chỉnh nhưng hiếm khi xuất hiện. Quyển sách phỏng đoán vào đầu thế kỷ 21, điều gì sẽ nổi bật ra và thiết kế kiến trúc nhà ở và những ngôi nhà này cho chúng ta thấy những gì thuộc về tính văn hoá, xã hội của chúng. Theo những gì quyển sách rút ra, ở Australia cùng với những ngôi nhà từ các quốc gia xung quanh, như một luồng kiến thức về một vùng miền rất khác biệt với các kiểu mẫu kiến trúc được thiết lập ở Châu Âu và Châu Mĩ.
Một đặc thù của thế kỷ 21 và toàn cầu hoá là sự phát triển không cân đối của các khu vực kinh tế. Cho nên không có một quốc gia nào áp đặt về văn hoá lên toàn bộ xu thế chung, và khu vực Astralia hiển nhiên là một phần riêng biệt. Nam Á nổi lên như một trong những vùng có nền kinh tế và văn hoá đa dạng và sôi nổi nhất trong thế kỷ mới. Những gì mà cuốn sách đã biểu lộ trong lĩnh vực này, cuốn sách đã tự nâng lên một tầm cao hơn chính tham vọng của nó và giảm bớt sự đặt trọng tâm vào riêng nước Úc . Điều này đã được khắc hoạ trong quan điểm đa phương diện về ngôi nhà của thế kỷ 21, rằng ngôi nhà bao hàm nhiềuýý nghĩa hơn trong chính bản thân nó. Những ngôi nhà xuất hiện trong cuốn sách được lấy từ Srilanca, ấn Độ, Singapo, Indonesia, Austalia ( trước đây đều là những quốc gia bị thuộc địa và cả Thái Lan đều đã thoát khỏi sự thuộc địa hoá). Khu vực này được đánh dấu bởi một lịch sử về sự thích ứng với khí hậu đối với các biệt thự nằm đơn lập là sự phản ánh một giai đoạn gồm những gì có giá trị nhất, và được tìm kiếm cho kiểu mẫu về vấn đề ở. Khu vực này cũng được đánh dấu bởi sự bất bình đẳng tột bực giữa sự giàu sang và nghèo hèn, bời những gì mà sự thống trị của sự thuộc địa để lại. Bắt đầu một cuộc tìm kiếm những giá trị văn hoá riêng biệt và một nền kiến trúc biểu tượng riêng cho những đặc tính văn hoá, một sự trở lại với đặc tính bản địa. Những kiến trúc được khảo sát trong cuốn sách này đều hết sức tươi mới, thời thượng vì nó là sự phản ánh chính trị xã hội và điều kiện khí hậu, cùng với những ýý tưởng mạnh mẽ cá biệt trên một bình diện rộng lớn.
Không giống với Smithson với “ House of the future” ngày nay người ta không có quyền tiếp cận dựa theo sự ảnh hưởng của một sức mạnh riêng lẻ mà được thừa nhận rộng rãi. Ngôi nhà được lựa chọn phải biểu lộ những ýý tưởng mới và thích ứng được với những điều kiện đặc biệt của chúng như: địa lý, khí hậu, kinh tế, văn hoá. Trong một bài tiểu luận của Philip Goad “ Tóm lược lịch sử ngôi nhà tương lai _ một mặt khác của thế giới” chỉ ra 3 cách tiếp cận trong các ngôi nhà được lựa chọn,“... Những kiến trúc sư làm việc ở một mặt khác của thế giới này có chiều hướng theo 3 dòng suy nghĩ về ngôi nhà của tương lai:

1. Những ngôi nhà riêng rẽ theo lối kiến trúc hiện đại vẫn tiếp tục được bảo lưu - nhưng với một vẻ chỉ trích - nét đặc trưng của những thành phố thuộc về một thế giới mới vì khí hậu và quy hoạch theo lối thuộc địa.
2. Sử dụng công nghệ cao như một sự phản ứng trước tình hình thực tiễn hay chính là hậu quả của nền kinh tế chính trị.
3. Sự ẩn cư hoàn toàn khỏi đô thị với ngôi nhà “ low-tech” nhỏ nhắn và khu nhà gỗ một tầng “ anti- bungalow” đồng thời chú trọng cải cách hơn là theo thẩm mĩ hoài cổ.

VIệc đưa ra các vấn đề về tiện nghi, an ninh, riêng tư và một hình thức biểu tượng nào đó gợi lên về chất lượng đã được chứng minh là có thể tồn tại lâu dài hơn sự ảo vọng về sự cứu rỗi của khoa học công nghệ. Điều này được thấm nhuần bởi những người buôn bán nhà đất, những người coi nhà đất là một lĩnh vực đầu tư tiềm năng nhất, ngôi nhà như một thứ tài sản và dễ dàng mua bán như một thứ hàng hoá. Thực tế trên bình diện toàn cầu có một phần trăm rất ít các ngôi nhà được thiết kế bởi các kiến trúc sư. Những kiến trúc sư chủ yếu thiết kế cho những người giàu có . Chẳng hạn như ở Châu á nơi mà chỉ có những người giàu có mới có thể chi phí cho một ngôi biệt thự nằm riêng biệt. Ngoài ra có rất nhiều ngôi nhà mới ở đâu đó quay về với hình ảnh kiến trúc của quá khứ và sự sử dụng những cấu trúc của quá khứ này củng cố thêm minh chứng cho xu thế tìm kiếm sự an toàn, sự có thể đoán trước, sự không thay đổi, đóng vai trò của một thứ đã được lý tưởng hoá trong quá khứ. Những thứ mà hiện nay được ưa thích và lan tràn rộng khắp và trở thành một thứ có thể gây khiếp sợ !.
Chính những xu hướng mang tính bảo thủ này đã tạo ra một động lực thúc đẩy đI đến phong trào đô thị hoá mới (New urbanism), sự vận động bắt đầu tại Mĩ và được bình diện quốc tế chấp nhận với một sự ủng hộ cao. Một ví dụ nổi tiếng nhất là dảI đô thị ven bờ biển được sử dụng làm bối cảnh cho một bộ phim của Peter Weir có tên “ The Truman show” cả hai đền diễn ra ở Florida- Mỹ. Ngôi nhà trong những thị trấn này thoạt nhìn chúng không khác biệt mấy so với những ngôi nhà tiện nghi ở những thị trấn nhỏ của Mĩ trước chiến tranh. Trong khi các nguyên tắc của phong trào đô thị mới ca tụng hướng tới một sự tốt đẹp mang tính cộng đồng và tạo dựng ra sự an toàn, những không gian công cộng hữu ích, giảm chi phí xây dựng thì ở đây tất cả đều không gợi mở gì về một nền văn hoá đương đại ngoại trừ sự xa lánh hiện tại và hồi tưởng mô, phỏng quá khứ. Điểm mạnh của New urbanism là có thể điều chỉnh ở mức độ cao, được thực hành qua các bản thiết kế toà nhà, thường thông qua các hình vẽ được thiết lập thông qua các hệ thống quy tắc kiến trúc. Các hệ thống quy tắc này được vẽ dựa trên các cấu trúc ở truyền thống (traditional housing form), tiếp đó dẫn đến một giới hạn là một thứ chủ nghĩa Tân bản xứ (Neo-Tradtionalism) thường được dùng dưới một cách khác để diễn tả về New urbanism.
Việc thay đổi phương thức xây dựng, công nghệ mới, sự biến đổi các giá trị văn hóa xã hội đã ít nhiều ảnh hưởng tới hình thức kiến trúc của New Urbanism. Điều này rất logic khi ta thấy rằng mức độ có thể xác định về mặt kiến trúc đã thấy được qua việc tái tạo lại các cấu trúc của quá khứ, những giá trị xã hội của quá khứ cũng sẽ được lặp lại hoặc ít nhất cũng sao chép ý tưởng từ các giá trị này. Đặc tính chung của các thành phố lớn với những khu ngoại ô rải rác bao quanh và sự giảm thiểu các khu vực công cộng, hậu quả của sự phát triển của các toà nhà chọc trời (monster house) đã nói lên tất cả. Điều kiện thuận lợi đã từng tìm thấy trên những con đường đô thị nay đã bị di chuyển vào trong từng căn hộ riêng rẽ. Một ngôi nhà tiện nghi bây giờ phải có bếp, bếp phải phục vụ được như một nhà hàng, có quầy rượu, có bàn pha cafe, có bàn ăn, bể bơi, rạp chiếu bóng trong nhà và có phòng hát karaoke . Dấu hiệu này là sự rút lui về một chốn riêng tư được bảo vệ nơi không có sự sợ hãi và lừa lọc. Monster house là một nơi đầy đủ tiện nghi tách khỏi những nguy cơ trong lĩnh vực công cộng đem lại. Chẳng việc gì phải ra ngoài ( trong sự bảo vệ của hệ thống an ninh điện tử) nơi đầy rẫy sự hỗn loạn và khiếp sợ, có thể có mọi thông tin một cách an toàn ở trong nhà thông qua hệ thống vô tuyến truyền hình. Đó là hình thức cuối cùng của sự tư nhân hoá và trong các đô thị mạnh mẽ hơn trong xu hướng gặp gỡ của các cá thể hoặc các mong muốn riêng tư, điều này có liên can gì tới không gian đô thị và những khu vực công cộng?, câu hỏi này chắn chắn còn được tiếp tục.
Phản ứng lại với những xu thế địa phương hoá trên bình diện quốc tế quyển sách chú trọng đến những cơ hội để chọn một trong những kiến trúc trong tương lai. Bằng việc so sánh những ngôi nhà ở Úc và Newzealand với những ngôi nhà ở Nam Á và Đông Nam Á cuốn sách đã dự liệu rằng làm thế nào để những nét kiến trúc ở nơi này có thể thâm nhập và tác động tích cực đến nét kiến trúc của một nơi khác.
Kiểu “kiến trúc chính thống” hình thành dưới chế độ thuộc địa trước đây hay một hệ thống cai trị hà khắc là chủ đề được bàn đi bàn lại trong một cuốn sách mang tên “ Những bài viết của người Nam Á” Anoma Pierris trong bài tiểu luận của bà “Đằng sau những ngôi nhà của người bản xứ” có đưa ra quan điểm cho rằng “Tham vọng của người Phương Tây đã có phần bị gượng ép khi chịu một sức đề kháng và hấp thụ văn hoá bản địa” và với một nền tảng của lối sống đô thị hiện đại cấu trúc ngôi nhà mới dựa trên nhu cầu không gian của phương Tây nhưng phù hợp với truyền thống văn hoá và lối sống của người Nam á được hình thành.
Có hai xu thế đã được khai thác để tăng khả năng ứng dụng cũng như sự thẩm thấu và thích nghi, một là người bản xứ đóng vai trò như một ảnh hưởng bản địa tới thế giới hiện đại và cho phép sự thiết lập nên các bản tính bản địa, hai là nhân tố về mặt khí hậu đóng vai trò quyết định về cấu trúc kiến trúc. Phản ứng lại xu hướng bản địa không chỉ có những câu hỏi về mặt cấu trúc kiến trúc mà còn có những quy ước về việc xây dựng nhà của địa phương. Trường hợp ở Srilanka, sự phát triển của cái gọi là “ tính bản địa hiện đại” có một chiều sâu về mặt chính trị với việc ban hành lệnh cấm nhập khẩu vật liệu xây dựng dẫn đến một sự nương tựa vào công nghệ trong nước. Tuy nhiên những kiến trúc sư của Srilanka được lựa chọn trong cuốn sách này là một thế hệ mới, chứng minh những gì mà Pierris gọi là “ nhìn vào bên trong kiến trúc bản địa” , kết quả của những đòi hỏi về một đô thị hiện đại với cuộc sống hàng ngày của những người dân Srilanka hiện đại.
Việc sử dụng các hình thức kiến trúc phương Tây hiện đại ở Indonesia được kết hợp với những công trình xây dựng thời đế chế Suharto - hình ảnh của Indonesia hiện đại, trên thực tế nó không phản ánh đúng bản chất của cuộc sống. Một giới thiệu về những yếu tố bản địa được nhìn nhận bởi Amanda Achmadi trong tiểu luận của bà là một sự lật đổ nhận thức về sự xuyên tạc này, mặc dù chỉ với một nhóm nhỏ các kiến trúc sư. Bà miêu tả tiến trình thể hiện lại các phương pháp truyền thống trong việc giải quyết các khu vực đặc biệt là phương tiện để tái thiết lập các đặc tính của người Indonesia. Sự triển khai những hình thức bản địa trở nên những phương tiện để gia tăng sự thiếu lương tâm trong ngành kiến trúc bắt nguồn từ chính vai trò của nó, phô bày “ một sự ảo tưởng về một kiến trúc hiện đại Indonesia”. Khu vực nhà ở hiện đại đã làm di dời thậm chí cách ly khỏi nhịp điệu phát triển xã hội những khu vực làng truyền thống. Achmadi miêu tả một thử nghiệm khác gần đây nhất bày tỏ một nguyện vọng chủ yếu là kích hoạt lối sống bản địa hơn là đưa ra một sự chứng tỏ công khai về một yêu cầu nào đó. Bà cũng giới thiệu một dự án khiêm tốn hơn về cấu trúc ở tạm thời dành cho những người công nhân có thu nhập thấp ở Jakarta, những người mặt khác sẽ phải đi lại bằng xe buý?t hoặc ôtô qua một khoảng cách lớn giữa nơi ở và nơi làm việc.
Ở đây có mối quan hệ trực tiếp giữa công nghệ xây dựng bản địa và cấu trúc toà nhà thích ứng với điều kiện tự nhiên. Sự cam kết tiến hành những chiến lược như vậy và sự phô bày của những toà nhà là điều kiện để xác nhận sự khác biệt của bản địa, điều kiện để chối bỏ thứ kiến trúc trường phái quốc tế . Và rồi thứ kiến trúc thích ứng với khí hậu thành ra một thứ di sản đánh dấu dưới thời kỳ thuộc địa, một lối sống tất yếu tạo ra bởi sự bóc lột. Pipark Auurakyawachon, trong bài thảo luận của ông về những ngôi nhà Thái gần đây, viết về sự tác động của phương Đông và sự hợp nhất của những cấu trúc hiện đại phương Tây với kết cấu văn hoá phương Đông . Từ đó ông nhắm vào tìm kiếm những gì của cuộc sống thực tại ở Thái Lan hơn là những hình ảnh kiến trúc hiện thân cho một lối sống giả tạo một sự cưỡng bức Tây hoá.
Tác động về sự di trú không phải là duy nhất. Ví dụ kiến trúc nhà ở của Úc được thừa nhận rộng rãi trong lối sống của người Châu Á, bởi vì có một số lượng lớn người Châu Á đang sống tại Úc, và cũng có một số lượng lớn người Úc đang đi du lịch hoặc đang sống tại các nước Châu Á lân cận, Philip Goad miêu tả “ ...ở những nghiên cứu đầy lôi cuốn về kiến trúc ở Úc, những không gian ngoại thất với những hàng rào thoáng, một nơi lý tưởng để sống trong đất nước này”.
Nghiên cứu này đã tạo ra kết quả là sự hiểu biết về lối sống của người Châu Á. Và một vài kiến trúc sư suất sắc của Úc đã chọn Châu Á là nơi sinh sống và làm việc. Ví như Kerry Hill đã sống và làm việc ở Châu Á đã hơn 30 năm tiếp nhận nhiều truyền thống văn hoá ở phương Đông làm phong phú hơn về ý nghĩa trong công cuộc cách tân trong kiến trúc của ông. Ông trở thành mục tiêu phấn đấu của các kiến trúc sư trẻ Châu Á. Một chủ đề khác là sự gia tăng tầng lớp trung lưu trở thành nguồn khách hàng cơ bản cho các kiến trúc sư địa phương. Achmadi trong đề tựa bài viết của bà “ Indonesia - sự biểu hiện về một tư tưởng mới của tầng lớp trung lưu”. Sự giàu có và khát vọng hướng tới sự giàu có ngày càng có ảnh hưởng lớn, đặc biệt ở những tầng lớp bị bần cùng hoá lao động thuần túy thuộc “ thế giới thứ 3” trong các thành phố ở Châu Á. Số đông những thanh niên có giáo dục Indonesia từ 20-30 tuổi đều mong muốn được giàu có nhưng không phải từ việc đút lót mua chuộc, và họ muốn bình đẳng nhưng họ cũng không muốn xuống đường đấu tranh cho nó... họ muốn làm tất cả những gì có thể để ghi dấu Indonesia lên hệ thống toàn cầu. Hi vọng rằng từ việc đưa Indonesia vào các tổ chức và các thị trường toàn cầu bất kể đó là WTO, Pizza Hut, APEC, ASEAN,... Họ có thể ngụ ý về sự vượt ra ngoài các tiêu chuẩn, những hệ thống nguyên tắc cơ bản vì biết rằng trên thế giới chẳng bao giờ có gì bắt đầu từ bên trên và cũng chẳng có gì bắt nguồn từ bên dưới. Auroville, một tổ chức quốc tế ở Nam Ấn Độ được đưa ra thảo luận trong bài viết của Anoma Pieris “ Bên kia ngôi nhà bản xứ”, một ngiên cứu nhỏ về một kiến trúc trúc tiếp cận một cách triệt để câu hỏi về sự duy trì ổn định trong ngôi nhà của họ và xem xét phương thức xây dựng địa phương và xử lý khí hậu. Auroville là một cộng đồng không tưởng về một sự pha trộn giữa Đông và Tây, giữa hiện đại và bản địa và là mấu chốt của hầu hết các luận điểm trong bài viết này.
Ở Australia và Newzealand, cảnh quan về cây xanh đang phát triển liên tục và mối quan hệ của chúng với ngôi nhà là bằng chứng về sự không chắc chắn rằng bằng cách nào chúng có thể đến và chiếm cứ vào các thành phố. Philip Goad lưu ý rằng những ngôi nhà của Australia “…với cảnh quan không phải là thoả thuận của sự sợ hãi hay sự chinh phục hoan hỉ mà là sự tôn trọng nhân tố cá nhân...” , Justine Clartt and Paul Walker trong bài viết ngôi nhà Newzealand đã nói rõ ràng về một mối quan hệ liên tục phát triển tới cảnh quan, quan sát từ kiến trúc địa phương, “…là tác động sâu sắc bởi sự thiên kiến về cảnh quan thiên nhiên” , định rõ ngôi nhà chìm vào cảnh quan, ngôi nhà là một phần của cảnh quan, và ngôi nhà như một cấu trúc kết quả của sự dàn xếp đối với cảnh quan. Trái lại họ cũng cho rằng kiến trúc Newzealand chỉ là “...sự bắt đầu của một thành phố không chịu ảnh hưởng bởi những di sản phương Tây”. Họ cũng gợi ý rằng vẫn cần thiết cho việc “ suy nghĩ nghiêm túc về tình trạng đa văn hoá của những ngôi nhà trong các thành phố của Newzealand.” Với sự trải dài của đô thị, kiến trúc sư giờ đây bị trói buộc vào “ hệ thống quy hoạch lằng nhằng đi kèm và phải tham gia vào cuộc chiến đấu bảo vệ các di sản văn hoá...” chịu sự áp đặt của nhà chức trách địa phương. Điều này dẫn đến một sự thử nghiệm khác so với cách đây 50 năm trước khi mà kiến trúc sư tiêu biểu hơn, làm việc trên những khu đất xây dựng nhỏ.
Khi so sánh với Smithson “ ngôi nhà của tương lai”, “nhà cho thế kỷ 21” không được quan tâm nhiều bởi những nhà không tưởng về triển vọng của thành tựu khoa học kỹ thuật và dường như bất kỳ chủ nghĩa không tưởng nói chung nào cũng không thích thú gì với khoảng thời gian lạc quan và nhiều sự hiểu biết này - những ngôi nhà luôn chứng tỏ một sự phản hồi lại những gì được biết và hữu hình. Có một sự thích thú mạnh mẽ về sự hiển nhiên, chất lượng, biểu hiện bề mặt vật chất hơn là những thứ phi vật chất. Sự yêu thích hơn dành cho những gì thuộc về bản chất hơn là những đặc tính của kiến trúc tối thiểu cuối thế kỷ 20 đã thiếu vắng đI rất nhiều. Vật liệu là bản địa, với một vài trường hợp về sự phát minh tái chế, rất nhiều ngôi nhà đã tỏ ý muốn xem xét chỉ trích một cách thận trọng về thời kỳ trước, trong văn hoá chính trị, và hệ thống kiến trúc. NgôI nhà kết nối sâu sắc với vị trí xây dựng và khu vực, thích ứng với địa phương, lề thói xã hội. NgôI nhà không phải là một đối tượng trừu tượng mà ở bất kỳ thành phố nào trên thế giới. Trên bình diện phát triển toàn cầu, chúng có phương thức đòi hỏi về chính vai trò quan trọng của chúng.

(*Người dịch: NqH *Grofrery London là giáo sư tại trường kiến trúc và nghệ thuật tạo hình thuộc đại học Western Australia - lời tựa cho cuốn sách “The House of the 21 century”)

Nhãn:

0 Nhận xét:

Đăng nhận xét

Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]

<< Trang chủ