Theory of City Form, Spring 2004 - Lecture 11
Theory of City Form, Spring 2004
Lecture 11 - Chicago
Handout : Hoyt's cycles of land value and building construction in Chicago from 1830 to 1930.
Handout : Hoyt's cycles of land value and building construction in Chicago from 1830 to 1930.
Khởi đầu chỉ với hơn chục căn lều của người da đỏ bắc Mĩ – người Anh-Điêng vào năm 1830, Chicago được xây dựng bằng sự không kiểm soát được của thị truờng thương mại bởi thành quách, tầng lớp quý tộc hoặc chính quyền cai trị. Từ một khu đất canh tác có giá trị vàI nghìn đô-la cho tới 5 tỉ đô-la vào năm 1930, sự thịnh vượng của nó thay đổi tuỳ thuộc vào chu trình kinh tế được chứng minh bằng tàI liệu của Homer Hoyt năm 1933. Những sự thay đổi bất thường đó bị tác động bởi không cchỉ những yếu tố tàI chính quốc gia mà con do những hoạt động địa phương: những âm vang gây ra bởi việc xây dựng kênh đào trong năm 1836 và đường ray xe lửa vào năm 1854, và thời kỳ khủng hoảng do hoả hoạn của một trong những thành phố rộng lớn nhất thế giới vằo năm 1871. Sự nghiên cứu về đất đai phụ trợ thêm vào chu trình đó: trong âm vang đầu tiên, danh tiếng về việc kinh doạnh bất động sản của Chicago là rất lớn do việc bán đấu giá các lô đất ở New York. Việc kinh doanh bất động sản như một trò chơI mạo hiểm , nó đã bị tranh cãI, gia tăng bằng sự tồn tại của thành phố mạng lưói kẻ ô tẻ nhạt khiến cho đất cát trở thành một thứ hàng hoá thương mại- These real estate gambling games, it has been argued, were accelerated by the existence of a flat city grid, reducing land to a trade able commodity. Mumford: “mỗi lô đất, mỗi hình dạng đồng nhất, trở thành một đơn vị, như một đồng tiền, có khả năng định giá và đổi chác ” Tuy nhiên nó không thể thanh minh cho việc thực hiện tư bản chủ nghĩa trong những thành phố không theo mạng lưới ô vuông- This does not, however, explain capitalist transactions in non-gridded cities. Như một bộ máy đầu cơ tích trữ, Chicago phủ nhận tính cách tự nhiên trong một tháI độ ngạo mạn: hơn 50 dặm kênh đào rối ren phức tạp được xây dựng trong sự bảo thủ lạc hậu từ năm 1899 trở ra bởi những ý thích riêng tư “ xây dựng một hệ thống đưòng ngầm một cách lén lút bên dưói Chicago trứoc khi thành phố biết điều gì đang xảy ra” sử dụng sự dối trá và đút lót để có đựoc quyền bầu cử…Khi 18000 ngôI nhà bị tiêu huỷ trong trận hỏa hoạn năm 1871, mới có những cảm giác về sự phán quyết thiêng liêng và sự trừng phạt nhưng, mạnh mẽ hơn là những ý niệm rằng “cáI ngày sau trận hoả hoạn, ngày đầu tiên của một Chicago mới ” và “Chicago một lần nữa đã mở ra cho thương mại”.Chicago là một trường hợp nghiên cứu về một thành phố đầu tiên tự hiến dâng cho việc tập trung tư bản - assembling capital nhanh chóng nhất có thể, không vấn đề cáI giá cho trảI nghiệm đô thị, và sau đó xã hội hoá sự giàu có hướng tới respectability và enculturation. Tại thính phòng của Louis Sullivan diễn thuyết về sự sùng báI văn hoá, nhưng trong trường hợp văn hoá của Louis Sullivan thì bị trói buộc vào tinh thần của những lời tuyên bố về chủ nghĩa hiện đại bằng những gì ông ta bị trói buộc vào phong cách triết trung của những người Columbia phơI bày ra năm 1893 - but in Sullivan's case culture is attached to moral propositions about modernism with which he attacked the eclectic styles of the Columbian Exposition of 1893. Sự phơI bày là mội câu trả lời quan trọng về một thành phố của slaughterhouses, một “vùng đất kỳ lạ của tân cổ điển ” đã thu hút hơn 27 triệu du khách đến với sự tráng lệ đó. ở London và Paris, phô bày sự tiến bộ thông qua khoa học công nghệ, ở Chicago công nghệ đã ở trong thành phố: one-twenty-fifth đường xe lửa của thế giới đã đI qua Chicago trong năm 1893 và đã có hai tá cao ốc chọc trời ở đó.
The Exposition addressed culture in two ways. In the first case, the overwhelming scale and classical consistency of the White City spoke to classy ideals for an emerging city (and nation). This "great beautiful silence" was set against a transvestized, racially informed place for another version of American culture, located in a one-mile long boulevard called the Midway Plaisance, where, under the direction of a Jewish impresario, "half-naked savages and hootchy-kootchy dancers provided white Americans with … a journey into the recesses of their own repressed desires." There were other temporary alternatives envisioned to the existing Chicago, among which the Reverend Dwight Moody's Tent City and Pullman, the industrial model city, which visitors passed en route to the Exposition, but where its workers rejected its paternalism, leading to the town's disappearance.
Sự cố gắng chủ đạo để táI tạo lại Chicago đã đến với quy hoạch đầu tiên cho một thủ đô của nước Mỹ, quy hoạch của Burnham năm 1909. Burnham với sự quản lý phi thường của mình thông qua cuộc triển lãm – Exposition không thể đạt được quy mô của một thủ đô hiện đại. Ông cố gắng bao quanh thành phố bởi một đường cong 6 dặm từ trung tâm và đường chéo của mạng lưới ô vuông kết nối ra vùng ngoàI và bên trong là “city beautiful” theo chủ nghĩa hình thức không thể đem lại: điều gì cảI tiến cho hệ thống xe lửa địa phuơng, nâng cao chất lượng hồ Michigan waterfront và mở rộng hệ thống khu bảo tồn công viên và rừng tự nhiên. Cố gắng thứ 2 bởi những kiến trúc sư từ sau Burnham thay đổi mô hình Chicago đã bị lờ đi: Hilbesheimer, 40 năm sau Burnham, đề xuất một sự thất bại có hệ thống của nhữnglô đất theo mạng lưới ô vuông, và Gandelsonas, 30 năm sau, đề xuất một mục tiêu khó khăn đối nghịch lại là khai quật lại những cấu trúc cơ sở của mạg lưói ô vuông.
Reading:
Cronon. Nature's Metropolis.
Gilbert. Perfect Cities.
Hoyt. One Hundred Years of Land Values in Chicago. pp. 128-140.
Maniera-Elia. Toward an Imperial City. pp. 1-45 and 89-104.
Miller. American Apocalypse.
Tafuri. The Disenchanted Mountain. pp. 431-482.
Wrigley. The Plan of Chicago. pp. 58-72.


0 Nhận xét:
Đăng nhận xét
Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]
<< Trang chủ