Haussmann và đô thị học quản trị
MẶT BẰNG THÀNH PHỐ PARIS
VÀ ĐÔ THỊ HỌC QUẢN TRỊ
VÀ ĐÔ THỊ HỌC QUẢN TRỊ
GS Trương Thao
" Bởi sự kính trọng, bởi niềm tin... chúng tôi sẽ sưu tầm làm một tuyển tập các bài viết của ông trên blog này, dành cho mọi người, nhất là cho các bạn sinh viên yêu mến"
Đà Nẵng vừa có một loạt các quyết định và biện pháp về quản lý phát triển đô thị rất hữu hiệu. Trong khi chờ cơ hội để có thể có dịp nghiên cứu về mặt lý luận các kinh nghiệm quý báu ấy, chúng tôi muốn chia sẻ với bạn đọc về một kinh nghiệm quản lý công việc mở rộng và cải tạo Paris do Nam tước Haussmann tiến hành cách này vừa đúng 150 năm. Đánh giá về kinh nghiệm ấy, người Pháp – qua ngòi bút của nhà sử học kiến trúc và đô thị Michel Ragon – xem đó là một thứ đô thị học kiến trúc đô thị học kiến trúc đô thị học quân sự (urbanisme militaire) hoặc đô thị học cảnh sát (urbanisme policière). Nhưng nhà sử học kiến trúc và đô thị người Ý Leonardo Benevolo lại xem đó như là một cú đột phá ngoạn mục vào đô thị học quản trị, một trong bốn phạm trù của đô thị học mà chúng tôi cho là quan trọng nhất, tạo điều kiện cho sự phát triển của ba phạm trù còn lại của đô thị học như kết quả hành động của Haussmann đã chứng tỏ, vậy thì…
ĐÔ THỊ HỌC QUẢN TRỊ LÀ GÌ?
Chúng ta đã từng đề cập tới đô thị học lý thuyết (urbanisme operationel ) đô thị học pháp quy (urbanisme réglementaire hay urbanisme législatif ) và bây giờ thêm một “khu vực” nữa của đô thị học: đô thị học quản trị (urbanisme administratif ). Đây là một “ khu vực” của tri thức đô thị học bị gạt ra ngoài vòng cương toả của chính những người chịu trách nhiệm cho những thành công hay thất bại của mọi sự can thiệp vào môi trường đô thị: những nhà quản lý nhà nước ở địa phương, tức chính quyền địa phương, tức chính quyền thành phố. Chúng tôi xin nhấn mạnh lại một lần nữa rằng chính quyền thành phố chứ không ai khác, cũng không phải bộ này hay bộ nọ của chính phủ trung ương, bởi họ vẫn là người ngoài cuộc, người từ nơi khác đến, còn chính quyền thành phố là người tại chỗ, là người thay mặt Nhà nước quản lý toàn diện mọi vấn đề của xã hội trong đó có vấn đề tạo ra một môi trường đô thị lành mạnh cho mọi hoạt động của cộng đồng.
Cho đến nay nhiều người trong giới chuyên môn và cả giới cầm quyền vẫn cứ đinh ninh rằng quy hoạch đô thị chỉ làm công việc sản xuất ra các bản vẽ quy hoạch, hết quy hoạch chung rồi tới quy hoạch chi tiết và hễ có thất bại trong xây dựng thì người ta lại đổ tội cho quy hoạch chung làm sai hoặc quy hoạch chi tiết làm sai, rồi mọi biện pháp xây dựng và cải tạo đô thị cứ do một và mỗi một người làm xiếc hết tung quả bóng triển khai quy hoạch chi tiết. Chúng ta nhất thiết phải đổi mới quan niệm của chúng ta, xem “quy hoạch đô thị” như một quá trình tìm kiếm tương lai sờ nắn được cho địa phương hay vùng lãnh thổ. Đó là một quá trình liên tục không bao giờ dừng lại ở việc tạo ra các mặt bằng quy hoạch mà phải tiến hành từng bước thông qua các khâu quyết định giám sát và đánh giá cao các bước thực hiện, tức đảm bảo cho các dự án được triển khai trên thực tế (chỗ nhấn mạnh là của chúng tôi, TQT) A.CATANESE – J.SNEIDER, 1988.
Chúng tôi muốn nêu thêm một định nghĩa nữa về quy hoạch đô thị, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của việc thực hiện cũng như đảm bảo các nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện ấy: “Quy hoạch bao gồm việc lựa chọn trong số các phương án đề xuất cái nào biểu thị được tính rộng mở vào tương lai và rồi tìm cách đảm bảo cho sự thực hiện nó bằng cách cung ứng các nguồn lực cần thiết” [ TQT) ( 128 ) M. ROBERTS, 1995] (những chỗ nhấn mạnh là của chúng tôi – TT).Qua định nghĩa trên, nhà quy hoạch và nhà kiến trúc chỉ là người làm nhiệm vụ đề xuất các phương án, còn việc “ lựa chọn” phương án rồi “đảm bảo cho việc thực hiện” ( tức tiến hành thiết kế và triển khai xây dựng ) và “cung ứng các nguồn lực” đều không thuộc thẩm quyền giải quyết của nhà kiến trúc hay không quy hoạch, bởi tất cả các khâu này là những quyết định chính trị và đấy là trách nhiệm của chính quyền địa phương.
Trong vài thập kỉ gần đây trên thế giới nói chung người ta bỗng quan tâm tới quy hoạch đô thị trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, nhất là việc thôi không còn bám lấy những chuẩn tắc của mô thức quy hoạch hành động thì kinh nghiệm thực thi quy hoạch Paris của nam tước Georges HAUSSMANN ( 1809 – 1891) thật đáng khâm phục, gây kinh ngạc cho cả những người chỉ đạo xây dựng và cải tạo đô thị ở cuối thế kỉ XX. Và nếu như đô thị nào cũng gồm có thượng tầng kiến trúc và hạ tầng kỹ thuật thì việc chỉ đạo công cuộc xây dựng và cải tạo đô thị không thể giao phó hoặc cho kiến trúc sư hoặc người kỹ sư mà phải do nhà quản trị ( adminitrator ) có cương vị cao nhất của địa phương đảm nhận.
ĐẰNG SAU QUYẾT ĐỊNH CHỈNH TRANG PARIS Ở THẾ KỶ XIX:
Bao nhiêu năm nay các nghiên cứu thành công trong công việc chỉnh trang Paris, người ta luôn nhắc đến cái tên Georges HAUSSMANN như là một người có công đầu trong thành tựu cải tạo Paris. Và công việc làm của HAUSSMANN được coi như kết quả của nền đô thị học nhà binh (urrbanisme militaire ) hoặc thậm chí là đô thị học của cảnh sát (urbanisme policière ) [ M, Ragon, 1971 ]. Bởi vì đây là lần đầu tiên một tập hợp các trang thiết bị kỹ thuật và biện pháp hành chính kiên quyết áp dụng cho một thành phố dân số đã vượt ngưỡng một triệu người, đã được nghiên cứu và thực thi một cách tương đối hữu hiệu trong một thời gian tương đối ngắn [ L. Benevolo, 1979 ]. Thực tế thì không ai chối cãi sự kiện rằng lần đầu tiên vấn đề mặt bằng điều phối của một thành phố hiện đại đã được chuyển thành hiện thực dưới sự giám sát chặt chẽ không những về hành chính – tài chính mà về cả không gian - kỹ thuật nữa [ L, Benevolo, 1979 ]. Cho nên cách đánh giá đúng nhất về công việc làm của HAUSSSMANN là xem đó là quy hoạch quản trị ( planning management ) [ J. UDY, 1994]. Song đó là nói về kết quả của việc thực hiện và tài chỉ đạo của HAUSSMANN, nhưng còn ý đồ cải tạo đúng hơn là ý đồ chính trị ở đằng sau công cuộc cải tạo Paris là của nhà độc tài Louis – Bonaparte lên cầm quyền nhờ cuộc cách mạng năm 1848, sau đó đã làm đảo chính xoá sổ nền Cộng hoà đệ nhị để lên ngôi hoàng đế để lên ngôi hoàng đế mang tên Napoleon đệ tam. Napoleon III đã chọn HASSMAN làm tỉnh trưởng La Seine và cặp bài trùng đó đã khai sinh ra thứ đô thị học nhà binh và cảnh sát ấy: “ Quá lo sợ đối với sự nổi dậy của quần chúng lao khổ thúc ép sự nảy sinh một thứ đô thị nhằm phá bỏ nhà ở của thợ thuyền ở các khu vực trung tâm đô thị để xua đuổi “các tầng lớn cần lao ra khỏi các khu ở của giai cấp tư sản dinh thực công cộng, rồi nhân đó cho ra các tuyến đường thẳng chỉ ít thích nghi cho việc lập các chướng ngại vật nhưng lại tạo điều kiện cho hành quân của bộ binh và pháo binh hạng nặng. RAGON, 1971."
Phải nói đó là quyết định chính trị của người đứng đầu nhà nước làm cơ bản cho quyết định kỹ thuật đối với việc cải tạo các khu vực trung tâm Paris do chính HAUSSMANN đưa ra đã minh hoạ một cách đầy đủ cho ý đồ chính trị của Napoleon III về HAUSSMANN đã viết trong hồi ký của mình: “ Giải toả các ngôi nhà lớn…để nhằm mang lại cho thị giác một cái nhìn thoáng đãng hơn… và một sự phòng thủ dễ dàng hơn trong những nơi có nhân chứng nổi dậy…đảm bảo sự yên tĩnh công cộng, bằng cách tạo lên các đại lộ lớn cho phép lưu thông không những không khí và cả ánh sáng mà cả quân đội nữa và, bằng sự phối hợp khéo léo sẽ làm cho quần chúng có hành vi đúng đắn và ít có điều kiện để nổi loạn”.Ngoài ra những âu lo tới tình hình chính trị nội bộ, các nhân tố kinh tế và xã hội cũng đặt thành vấn đề phải cải tạo Paris. Vào thời kỳ cách mạng 1789, Paris mới có khoảng một triệu dân, khoảng hơn một năm sau, vào lúc Louis Bonaparte lên đảo chính và lên ngôi hoàng đế ( Napoleon III), thành phố đã ngót nghét một triệu người. Trung tâm thành phố cổ xưa này càng ngày càng tỏ ra không còn khả năng chịu đựng nổi sức nặng của một cơ thể đang phình ra: các con đường bé nhỏ thời Trung cổ và thời Baroc không còn đủ chỗ cho vận chuyển; nhà cửa cũng không còn thích nghi với các yêu cầu của một thành phố công nghiệp, sự tập trung các chức năng và các quyền lợi khác nhau vào thủ đô đã làm giá đất tăng vọt… Cho nên một chuyển đổi căn bản cho lĩnh vực xây dựng là điều nhất thiết phải làm. “ Sự tình cờ may mắn đã mang lại cho toà thị sảnh Paris một tỉnh tưởng hoạt bát, tràn trề nghị lực và đầy tham vọng biết ứng với tình thế chính trị và kinh tế, có khả năng tạo lên một tổ chức chính trị bảo quản cho tổ công việc cải tạo thành phố một tính hệ thống nhất định, biết dự kiến trước những khó khăn để vượt qua bằng cách sử dụng các phẩm chất cá nhân: sự khôn khéo và lòng dũng cảm” [L. BENEVOLO, 1979]
SÁU LOẠI CÔNG VIỆC CỦA HAUSSMANN
Bước chân vào toà thị sảnh, công việc đầu tiên mà G. HAUSSMANN làm là cải tổ các phòng ban kỹ thuật chịu trách nhiệm đảm bảo cho công việc xây dựng đô thị, thay thế các kiến trúc sư bằng các kỹ sư và cán bộ kỹ thuật. Điều này thì đế chế đệ nhất của Napoleon III cũng chẳng thích thú gì họ. Ông ta chỉ tin tưởng vào vái hữu ích và hữu hiệu. Đó là nhờ ngay từ thời Đế chế đệ nhất Trường Bách Khoa ( ecole de Beaux Arts ) từng làm mưa làm gió trước đó.
Bằng cách tạo ra một công cụ thực hiện hữu hiệu và được sự ủng hộ của Napoleon III, HAUSSMANN biểu thị cho sức mạnh và vị thế của ông ta, đặt họ dưới trướng của những ý đồ và dự tính lớn lao của mình.
Trong vòng 17 năm ở cương vị ông chủ toà thị sảnh Paris, HAUSSMAN đã thực hiện sáu loại công trình như sau:
1. Đường sá:
Công cuộc cải tạo Paris bắt đầu bằng hệ thống đường thành phố: xoá bỏ con đường cũ, mở các con đường mới, cải tạo các công trình bố trí thẳng hàng dọc tuyến phố. Thành phố Paris trước đây có 384 km đường ở trung tâm và 355 km ở ngoại thành. HAUSSMAN mở 95 km đường mới và bỏ đi 49 km đường cũ (ở ngoại thành các con số tương ứng là 70 km và 5 km ) Như vậy chiều dài đường mở mới là 165 km, gần gấp 3,5 lần chiều dài đường bỏ đi. Hạt nhân thời trung cổ đã bị xáo trộn ở mọi hướng, nhiều khu phố cũ bị san bằng hoàn toàn, nhất là ở phía đông, nơi thường xảy ra các cuộc nổi dậy. Vậy là HAUSSMAN đã phủ lên thành phố một mạng lưới đường phố rộng và thẳng tạo nên một hệ thống gắn bó chặt trẽ ( hình 1 ) để giao lưu giữa các trung tâm chủ yếu của đời sống đô thị cùng lúc các ga cuối tuyến của đường sắt, đảm bảo cải thiện bức tranh giao lưu của thành phố bằng các đường xuyên và đường vòng .
2. Công trình công cộng:
Loại công việc quan trọng thứ hai là hệ thống các công trình công cộng tại các khu mới và khu cũ được cải tạo: đó là trường học, bệnh viện, thư viện, trường cao đẳng, chợ…. Nhà nước còn chăm lo các công trình quân sự và cầu cống nữa. Các kiến trúc sư nổi danh đương thời như Labroste, Baltard, Vaudremer, Hittorf…. đều được huy động cho mảng công việc này.
Jacques – Ignace HITTORF ( 1792 – 1967 ) là người được Napoleon yêu quý, trực tiếp giao cho nhiều công trình, trong số đó có nhà ga phía Bắc ( Gare du Nord ) được Napoleon III đánh giá cao. Còn Victor BATARD ( 1805 – 1874 ), bạn học cũ của HAUSSMANN được giao cho việc xây dựng khu chợ trung tâm Paris ( Halles de Paris ). Vốn là người đoạt giải khôi nguyên La Mã.BALTARD đã xây dựng khu chợ bằng đá đẽo, song khi gian chợ thứ nhất vừa hoàn thành, nhìn thấy dáng cỏ vẻ nặng nề, thô kệch và xấu xí của nó Napoleon III đã hạ lệnh phá bỏ ngay. HAUSSMANN mời BALTARD tới và nói: “ vấn đề của anh bây giờ là phải biết phục hận. Anh làm cho tôi một phác thảo theo chỉ dẫn sau đây: bằng sắt, bằng sắt và chỉ bằng sắt thôi” [ G. HAUSSMANN. ( 1980 ) 1970] ( những chỗ nhấn mạnh là của chúng tôi, T.T ) ( xem hình )
3. Công viên:
Tạo lập các công viên cho Paris là công việc lớn thứ ba. Cho đến lúc ấy thành phố chỉ có các vườn hoa nhỏ là vườn Tuileries và vườn Champs Elysees ở hữu hạn, vườn Champs de Mars và vườn Luxembourg ở tả ngạn sông Seine, HAUSSMANN đã cử Adolphe ALPHAND ( 1817 – 1891 ), một kỹ sư tốt nghiệp trường Bách Khoa phụ trách khối công việc này. Theo thị hiếu của Napoleon III, ALPHAND đã đưa phong cách vườn Anh vào tất cả không gian xanh của Paris: các khối cây xanh, thác nước nhân tạo, sông lừ đừ, hang động, hòn non bộ…. Ông đã biến khu rừng Boulogne thành vườn rừng ( bois ) cho giới tư sản còn khu rừng Vincennens thành vườn ( hoa ) công cộng cho mọi người ở nơi gặp gỡ của sông Marne với sông Seine. Ông còn tạo nên hai khu vườn nổi tiếng khác là Buttes – Chaumont ở phía Bắc và Parc Montsouris ở phía Nam thành phố. Trong hồi ký của mình HAUSSMANN dừng lại khá lâu ở đoạn nói về công việc tạo lập các vườn, xem nó như là sự minh chứng cho danh tiếng của ông.

4. Mạng lưới cấp thoát nước:
Mảng công việc thứ tư mang lại nhiều đổi mới cho thành phố Paris là mở rộng và cải tạo mạng lưới trang thiết bị cấp và thoát nước. HAUSSMANN giao phó cho kỹ sư Franscois Eugene BELGRAND ( 1810 – 1878 ). Vốn là một công chức thường bậc trung tỉnh lẻ được gọi về giao phó tổ chức công tác thuỷ lợi cho Paris, BELGRAND đã nâng khối lượng nước thành phố từ 112.000 m3 lên 343.000 m3 và chiều dài đường ống dẫn - từ 747 km lên 1545 km. BEL – GRAND còn tạo thêm 500 km đường ống thoát nước cộng thêm vào 107 km có từ trước. Công việc chiếu sáng cho đường phố cũng được tăng cường từ 12.400 đèn hơi đốt lên 32.320. Mạng lưới giao thông công cộng cũng được cải tiến và tổ chức lại, giao hẳn cho một công ty đảm nhận.
5. Tổ chức quản trị thành phố:
Tác động cả khối lượng công việc này lên toàn bộ công cuộc cải tạo Paris là không nhỏ. Việc đầu tiên là HAUSSMANN sáp nhập 11 công xã (communes) ở vành đai ngoài của Paris vào 12 quận (arrrondissements) truyền thống nâng số phận của Paris lên thành 20, giới hạn của thành phố trùng khít với bức tường thành bảo vệ Paris và 20 quận ấy tồn tại cho đến ngày nay. HAUSSMAN còn mong muốn sáp nhập vào một dải đất rộng chừng 250 m phía bên ngoài tường thành, hướng tới xây dựng một đại lộ ngoại vi phía bên ngoài tường thành, nhưng không có kết quả vì nạn đầu tư đất đai. Phải đến 70 – 80 năm sau, dự kiến nhìn xa trông rộng ấy của ông mới thành hiện thực: đại lộ vành đai ( boulevad peripherique - đại lộ này chạy song hành với tuyến đường tàu điện vừa ngầm vừa hở vốn được xây dựng trên nền của tường thành bị phá hỏng ). Và Paris nội thành gồm 20 quận tồn tại từ bấy đến nay.
6. Tài chính minh bạch:
HAUSSMANN hiểu rõ rằng mọi công việc cải tạo thành phố và xây dựng mới đòi hỏi những nguồn lực to lớn, nhất là tài lực bên cạnh các nguồn lực khác về nhân lực quyền lực chúng ta đề cập tới ở trên. Và ông đã có những biện pháp hữu hiệu, chủ yếu dựa vào giá trị gia tăng của đất một khi các công trình công chính được cải thiện và vào tín dụng của thị trường tự do về vốn, chỉ sử dụng ít sự hỗ trợ của nhà nước. Thật thế, các công trình công chính không những giúp gia tăng giá trị đất đai nằm ven các tuyến công trình mà còn tác dụng chung lên cả thành phố, tạo điều kiện phát triển nhiều mặt và từ đó thu nhập cũng tăng theo. Chỉ riêng phương diện ấy thôi mà hiệu quả đã mang lại cho thành phố một sự gia tăng đều đặn các nguồn thu, nhờ thế mà ông có thể vay mượn ở các ngân hàng tín dụng cần thiết như bất cứ doanh nghiệp tư nhân nào. Từ 1853 đến 1870 HAUSSMANN đã chi hết hơn 2,5 tỉ francs, trong đó chỉ có 100 triệu francs tài trợ của nhà nước trung ương. [ L. BENEVOLO, 1979 ]
Trong hồi ký của mình ở các trang 337 – 340 HAUSSMANN đã dẫn ra đầy đủ các khoản chi – thu cụ thể, dưới đây là toát chủ yếu của cân bằng ngân sách [ G. HAUSSMANN, ( 1980 ) 1979 ] .
SUY NGẪM VỀ HAUSSMANN
Trên 130 năm kể từ ngày HAUSSMMANN chấm dứt cuộc phiêu lưu có một không hai của mình dưới sự bảo kê của người đứng đầu nhà nước Pháp lúc ấy là Naloleon III, ngay từ thời ấy HAUSSMANN từng bị phê phán từ các giới chính trị và văn hoá. Các nhà chính trị theo chủ nghĩa tự do trách cứ ông về sự tự do quá trớn ( desinvolture ) trong cách thức điều phối tài lực, tránh né mọi sự kiểm tra của các nhà chức trách trung ương, về ý định của ông khi bán các khu đất cận kề công trình chính. ( Về sau Hội đồng nhà nước (conseil d’ etat ) quyết định các khu đất xây dựng một khi đã được trưng mua và quy hoạch lại xong còn bao nhiêu phải trả cho chủ cũ, cũng vậy phần giá trị gia tăng do các công việc cải tạo mang lại cũng phải trả về cho họ, chứ toà thị sảnh không được thu - quyết định ngày 27/12/1858 ) [ L. BENEVOLO, 1979 ]
Còn các nhà trí thức và các nghệ sỹ lại trách cứ ông về việc phá bỏ các khu phố cũ của Paris và dáng vẻ tầm thường của các công trình xây dựng mới. Tất nhiên khi phải đập phá nhiều để cải tạo một khu vực rộng lớn thì một vài cảnh bài trí đẹp dĩ nhiên phải bị dẹp bỏ, bù lại những tiến bộ kỹ thuật, những thoáng đãng của không gian mới…. cộng với sự biến mất những cảnh trí u ám và đồng điệu của thành phố công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa.Nhưng sự thành công của HAUSSMANN chứng tỏ rằng ông , tuy có “ít văn hoá” nhưng lại tự do hơn và hiện đại hơn những kẻ phê phán ông. Thời gian trôi đi, nhiều ý tưởng mới về xây dựng và cải tạo đô thị tiếp tục nảy sinh, nhưng kinh nghiệm của HAUSSMANN vẫn chiếm một vị trí đáng nể trong các thành tựu đô thị học, nhờ vào các “ bài học” nó để lại cho giới chức quản lý và chuyên môn nữa.
1. Người ta đặt câu hỏi, liệu có phải HAUSSMANN là tác giả thực thụ của mọi công việc biến đổi thành phố Paris hay hành động của ông có thực sự được sự hướng dẫn của một dự án thống nhất được chuẩn bị từ trước? Câu trả lời tích cực cho cả hai cách đặt vấn đề. HAUSSMANN kể rằng: " vừa được bổ nhiệm tỉnh trưởng La Seine, trong một bữa ăn tối, Napoleon III cho ông xem một bản mặt bằng thành phố Paris trên đó người ta thấy chính hoàng đế đã vạch màu xanh, đỏ, vàng, xanh lá cây tuỳ theo cấp độ cấp thiết, các con đường mới ngài đề nghị thực hiện” [ G. HAUSSMANN. ( 1890 ) 1972]. Trong mọi cơ hội ông luôn luôn tuyên bố rằng chính nhà vua mới là tác giả của các kiến nghị chỉnh trang đô thị, còn ông chỉ là người cộng tác. Và người đời cứ tin vào đó, rằng Napoleon II là tác giả thực thụ của mặt bằng Paris. Rất có thể đó là cách phát biểu có chủ tâm của HAUSSMANN nhằm che đậy các sáng kiến của mình dưới danh nghĩa nhà vua để dễ bề hành động.
2. Nhưng trong công cuộc cải tạo Paris những sự kiện nhìn thấy được ít hơn rất nhiều những sự kiện không nhìn thấy được” hành động quản trị là khía cạnh quan trọng nhất của cuộc thử nghiệm quy mô lớn ấy. Và HAUSSMANN tự đảm trách công việc lấy, tự cáng đáng lấy một mình và đi trước cả Napoleon đi trước cả các chính quyền đại diện.
3. HAUSSMANN đã chuẩn bị ngay từ đầu một chương trình hành động trọn vẹn, và sau đó ông kiên trì theo đuổi nó đến cùng. Chương trình ấy không nằm trong bất cứ bản vẽ nào, và chính ở chỗ đó mà người ta nhận ra tầm quan trọng và tính hiện đại của công cuộc cải tạo Paris do ông chịu trách nhiệm [ L. BEVEVOLO, (1963 ) 1967 ]. Ông không có ý định đặt việc cải tạo Paris theo một mặt bằng ấn định trước nào. Trước ông đã có người làm điều đó, vẽ nên những dự án Paris lý tưởng mà không quan tâm tới vấn đề thực tiễn sống động đặt ra. Cho nên từ năm 1858, sau khi sát nhập các thi tứ ven ngoại vào nội thành ông bèn lập Văn phòng quy hoạch (office du plan ) do M. DESCHAMPS chủ trì để thích nghi hoá, năm này qua năm kia, các dự án bộ phận trên cơ sở các kinh nghiệm thu được và trù tính kỹ lưỡng đến các thay đổi tuỳ theo tình thế.
4. Công việc làm của HAUSSMANN là bước đột phá quan trọng trong việc cải thiện hình ảnh đô thị công nghiệp. Có người gọi đó là đô thị học tân bảo thủ (urbanisme policier ) hay đô thị học nhà binh (urbanisme militaire ) thì kết quả của một hành động trên quy mô lớn đối với một trong những thành phố lớn của Châu Âu lúc bấy giờ là một bước khởi đầu quan trọng, ít nhất ở hai bình diện.
5. Bản thân kinh nghiệm quản lý thực hiện những ý đồ và mục tiêu nêu trong dự án tổng mặt bằng thành phố Paris ( mà thuật ngữ hiện nay gọi là quy hoạch chiến lược – strategic planning ) đòi hỏi phải tiến hành công việc phân bố các mục tiêu thành những dự án nhỏ hơn theo trình tự ưu tiên ( mà thuật ngữ hiện nay gọi là quy hoạch chiến thuật – tactic planning ) bởi ai cũng biết rằng không ai có thể cùng lúc thực hiện mọi mục tiêu theo kiểu dàn hàng ngang mà phải biết ưu tiên hoá – prior – itize - để phân bố hợp lý nguồn lực và cứ từng bước thực hiện lại điều chỉnh quy hoạch cho đến khi toàn bộ các mục tiêu được thực hiện. Đó chính là đô thị học mà HAUSSMANN là người đặt nền móng. Và đô thị học quản trị do vậy mà có tầm quan trọng hàng đầu cho sự thành công của các phạm trù đô thị học khác.
6. Tiếng vang của công cuộc cải tạo Paris rất lớn, và tác động cũng không nhỏ đến sự phát triển của đô thị học. Ở trong biên cương của nước Pháp, các thành phố khác dưới thời trị vì của cảr Napoleon III đều có những thay đổi quan trọng. Tại Lyon dưới sự quản trị cuả tỉnh trưởng VAISSE, tại Marseille tiếp theo công việc mở kênh đào Suez, rồi tại Motpellier, ROowwen, Avignon…đều có những biện pháp cải tạo, mở rộng, nắn thẳng các đường phố, bờ sông và kèm theo đó là các chỉnh trang đô thị khác. Tác động lớn nhất có lẽ là việc phá bỏ bờ tường thành của đô thị trung cổ Barcelona ( mà ở Tây Ban Nha người ta xem sự kiện đó cũng quan trọng như việc phá ngục Bastilles trong cuộc cách mạng 1789 ở Pháp ) [ Lopez de Aberasturi, 1979 ] và thiết lập mặt bằng quy hoạch mới cho thành phố. Chính cuộc đấu tranh cho việc chấp nhận mặt bằng theo kiến nghị của Iidefonso Cerda và sự ra đời của Teoria ( xem chuyên mục 2.1.3 của Đô thị học tập 2 ) mà đô thị học đã hình thành như một khoa học về vấn đề đô thị hoá ( science urbanisatrice ).
Tác động lớn khác là việc hình thành của Ring, một vành đai các công trình công ích qua bức thành của đô thị trung cổ Wien ( Áo ) theo mô hình của Camillo SITTE và sự xuất hiện của Der Staedtebau mở đường cho sự tiếp cận đô thị học theo các cơ sở nghệ thuật của nó.
Nguồn Kiến Trúc Việt Nam số 10/2004
2. Nhưng trong công cuộc cải tạo Paris những sự kiện nhìn thấy được ít hơn rất nhiều những sự kiện không nhìn thấy được” hành động quản trị là khía cạnh quan trọng nhất của cuộc thử nghiệm quy mô lớn ấy. Và HAUSSMANN tự đảm trách công việc lấy, tự cáng đáng lấy một mình và đi trước cả Napoleon đi trước cả các chính quyền đại diện.
3. HAUSSMANN đã chuẩn bị ngay từ đầu một chương trình hành động trọn vẹn, và sau đó ông kiên trì theo đuổi nó đến cùng. Chương trình ấy không nằm trong bất cứ bản vẽ nào, và chính ở chỗ đó mà người ta nhận ra tầm quan trọng và tính hiện đại của công cuộc cải tạo Paris do ông chịu trách nhiệm [ L. BEVEVOLO, (1963 ) 1967 ]. Ông không có ý định đặt việc cải tạo Paris theo một mặt bằng ấn định trước nào. Trước ông đã có người làm điều đó, vẽ nên những dự án Paris lý tưởng mà không quan tâm tới vấn đề thực tiễn sống động đặt ra. Cho nên từ năm 1858, sau khi sát nhập các thi tứ ven ngoại vào nội thành ông bèn lập Văn phòng quy hoạch (office du plan ) do M. DESCHAMPS chủ trì để thích nghi hoá, năm này qua năm kia, các dự án bộ phận trên cơ sở các kinh nghiệm thu được và trù tính kỹ lưỡng đến các thay đổi tuỳ theo tình thế.
4. Công việc làm của HAUSSMANN là bước đột phá quan trọng trong việc cải thiện hình ảnh đô thị công nghiệp. Có người gọi đó là đô thị học tân bảo thủ (urbanisme policier ) hay đô thị học nhà binh (urbanisme militaire ) thì kết quả của một hành động trên quy mô lớn đối với một trong những thành phố lớn của Châu Âu lúc bấy giờ là một bước khởi đầu quan trọng, ít nhất ở hai bình diện.
5. Bản thân kinh nghiệm quản lý thực hiện những ý đồ và mục tiêu nêu trong dự án tổng mặt bằng thành phố Paris ( mà thuật ngữ hiện nay gọi là quy hoạch chiến lược – strategic planning ) đòi hỏi phải tiến hành công việc phân bố các mục tiêu thành những dự án nhỏ hơn theo trình tự ưu tiên ( mà thuật ngữ hiện nay gọi là quy hoạch chiến thuật – tactic planning ) bởi ai cũng biết rằng không ai có thể cùng lúc thực hiện mọi mục tiêu theo kiểu dàn hàng ngang mà phải biết ưu tiên hoá – prior – itize - để phân bố hợp lý nguồn lực và cứ từng bước thực hiện lại điều chỉnh quy hoạch cho đến khi toàn bộ các mục tiêu được thực hiện. Đó chính là đô thị học mà HAUSSMANN là người đặt nền móng. Và đô thị học quản trị do vậy mà có tầm quan trọng hàng đầu cho sự thành công của các phạm trù đô thị học khác.
6. Tiếng vang của công cuộc cải tạo Paris rất lớn, và tác động cũng không nhỏ đến sự phát triển của đô thị học. Ở trong biên cương của nước Pháp, các thành phố khác dưới thời trị vì của cảr Napoleon III đều có những thay đổi quan trọng. Tại Lyon dưới sự quản trị cuả tỉnh trưởng VAISSE, tại Marseille tiếp theo công việc mở kênh đào Suez, rồi tại Motpellier, ROowwen, Avignon…đều có những biện pháp cải tạo, mở rộng, nắn thẳng các đường phố, bờ sông và kèm theo đó là các chỉnh trang đô thị khác. Tác động lớn nhất có lẽ là việc phá bỏ bờ tường thành của đô thị trung cổ Barcelona ( mà ở Tây Ban Nha người ta xem sự kiện đó cũng quan trọng như việc phá ngục Bastilles trong cuộc cách mạng 1789 ở Pháp ) [ Lopez de Aberasturi, 1979 ] và thiết lập mặt bằng quy hoạch mới cho thành phố. Chính cuộc đấu tranh cho việc chấp nhận mặt bằng theo kiến nghị của Iidefonso Cerda và sự ra đời của Teoria ( xem chuyên mục 2.1.3 của Đô thị học tập 2 ) mà đô thị học đã hình thành như một khoa học về vấn đề đô thị hoá ( science urbanisatrice ).
Tác động lớn khác là việc hình thành của Ring, một vành đai các công trình công ích qua bức thành của đô thị trung cổ Wien ( Áo ) theo mô hình của Camillo SITTE và sự xuất hiện của Der Staedtebau mở đường cho sự tiếp cận đô thị học theo các cơ sở nghệ thuật của nó.
Nguồn Kiến Trúc Việt Nam số 10/2004
Nhãn: GS. Trương Quang Thao


0 Nhận xét:
Đăng nhận xét
Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]
<< Trang chủ