Nguyễn Hoàng

"...từ trong chính bạn hãy sửa chữa những khuyết tật của dân tộc mình ... Garcia Marque

Thứ Tư, 1 tháng 10, 2008

Kiến trúc công nghệ và quy trình - Chris Abel- Chương 1.4

Sự phân quyền

Sẽ là sai lầm nếu chỉ trích điều này và khiển trách lớp trẻ Châu Á vì lại đi hưởng thụ những điều mà với những người Phương Tây đã là rất nhiều năm rồi, hoặc là kêu rên cho sự mất mát của những giá trị thanh bình và tinh khiết như cuộc sống của vùng kampong . Bản thân những người Phương Tây họ vẫn níu giữ những mường tượng về cảnh đồng quê của họ, vẫn tồn tồn tại mãi mãi như một thứ văn hoá được ưa chuộng, giống như một bộ phim trên TV có tên “ Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên – The little House on the Prairie”. Sự tương phản giữa cuộc sống của đô thị và nông thôn giúp lưu giữ những điều thần thoại giống nhau và trở thành một tỳ vết rất khó xác định. Trong khi những người dân làng thường xuyên chia xẻ lối văn hoá ở đô thị, thì những người dân thành thị lại tìm kiếm sự thay thế những sự căng thẳng của cuộc sống đô thị mà đang chuyển sang một chiều hướng trái ngược. Các dạng định cư kiểu phân tán dẫn đến chỉ tiêu dân số sử dụng xe hơi ở phía Tây Châu Mĩ Thái Bình Dương cũng như Australia đã có từ rất lâu những gìờ đây chỉ dành cho các khu vực giàu có ở Châu Á Thái Bình Dương. Sự giống nhau cơ bản giữa các cấu trúc ở bằng gỗ truyền thống của vùng Pacific Rim và cấu trúc gỗ của người Califolia hiện đại và người dân ngoại ô Australia – và bây giờ ở cả những vùng ven của những thành phố Châu Á – làm lu mờ hết thảy các đặc tính vật chất của các kiểu định cư giữa đô thị và nông thôn (ảnh 1.7 và 1.8).




Những công nghệ mới và những mô hình phi tập trung hoá của sản xuất và tiêu thụ đang gia tăng theo cùng một chiều hướng giống nhau, làm cho người ta có thể sống và làm việc trong một cộng đồng nhỏ hơn và trong cùng một thời điểm có thể giao tiếp dễ dàng qua các khoảng cách lớn. Trong một qúa trình, công năng của một công trình phải liên kết được với các toà nhà cũ và các dạng định cư trước đây, là những phạm trù và những đặc tính giả tạo trước đây mà ngày càng khó hiểu hơn?. Các trung tâm mua sắm bên ngoài đô thị bây giờ được thay thế một phần bởi những trung tâm công cộng rộng lớn thân thiện với cuộc sống đô thị. Nhiều công ty xây dựng lại ở khu vực vành đai thành phố thậm chí xa hơn đưa ra những điều kiện làm việc tốt và tiện nghi nhằm lôi cuốn người lao động ra khỏi thành phố. (ảnh 1.9 và 1.10). Những khu công nghiệp, văn phòng, khoa học công nghệ là sản phẩm của những nhu cầu giống nhau, cung cấp một sự chia sẻ về tiện nghi và an toàn chung.
1.7 Irwin House, Pasadena, California, USA. Green and Green, 1906. The architects’ residential architecture incorporates Japanese as well as Californian elements. Photo: Author.
1.8 Precima House, Kuala Lumpur, Malaysia. Jimmy Lim, 1987–9. Lim’s suburban house designs are strongly influenced by regional archetypes and
techniques of climate control. Photo: Author.
1.9 Securities Commission Building, Kuala Lumpur, Malaysia. Rendering. Dominant roof canopy is reinterpretation of traditional building forms. The building also incorporates numerous energy-saving features designed for tropical climate. Hijjas Kasturi, 1995–9. Source: Hijjas Kasturi Associates.
1.10 Securities Commission Building. Sited next to major highway on outskirts of Kuala Lumpur, the financial centre is situated close to
numerous leisure amenities. Photo: K.L. Ng.
Các kiểu dạng đô thị mới khác đang được hình dung như những sự thăng trầm của các thành phố góp phần vào nền thương mại những giá trị gia tăng và những khu công nghệ cao. Sân bay, là một ví dụ, này ngày càng mang một dáng vẻ ngạo mạn vai trò trước đây là của những hải cảng, đường sắt và đường bộ, như những điểm nhấn cho nền sản xuất và sự phân bổ, các nhà máy, các ngành dịch vụ và những người công nhân ra xa khỏi trung tâm thành phố vào trong một khu vực tách biệt tạo ra một khu định cư theo kiểu đô thị vệ tinh. Sự mở rộng giữa Kuala Lumpua và sân bay quốc tế mới (KLIA) (ảnh 1.10) 50 km về phía nam và tạo thành một thủ phủ hành chính mới tại Petrajaya, quy hoạch của Malaysia “Multi-media Supercorridor – siêu hành lang truyền thông đa phương diện’ được hình thành nhưng một low-rise garden ‘cybercity’ hoặc cyberjaya, với các khu ở và khu vực làm việc được kết nối hoàn chỉnh cho một kỷ nguyên của máy tính.25 Những dự án tương tự, như những sân bay mới và tổ hợp công nghệ cao gần Bangkok, hoặc đang được phác thảo trên bản vẽ hoặc đang trong quá trình xây dựng. Mặc dù sự thụt lùi về kinh tế thương mại làm cản trở quá trình hoàn thiện của chúng nhưng dường như những dự án như vậy sẽ thiết lập những kiểu mẫu cho mô hình định cư phân tán trong kỷ nguyên mới.26

Chòm sao

Sự giao thoa của một xã hội và một nền văn hoá nào tới các dự án đó và tác động của nó tới địa phương và tới những đặc tính của vùng mìên đang được tranh luận một cách sôi nổi. Những kiến trúc sư và những nhà quy hoạch trong vùng. Rất nhiều người trong số họ trung thành với những ý niệm hướng về Châu Âu về cấu trúc thành phố và không gian, thường miễn cưỡng chấp nhận những sự thay đổi như vậy, và không có lý do cụ thể, sợ hãi mất đi sự rõ ràng của những đặc trưng đô thị và không gian.27 Vì thế có một vài dự án đô thị tiên phong bắt nguồn bên ngoài khu vực Đông Nam Á như dự án của Tay Kheng Soon cho một ‘Intelligent Tropical City’ ở Singapore, hoặc Giga World (ảnh 1.12 và 1.13), đồ án ‘linear city’ được quy hoạch cho Kuala Lumpur.28 là một sự hồi tưởng lạ kỳ của những dự án về siêu cấu trúc – Megastructure đầu tiên bắt đầu từ Archigram và những nhà thiết kế Châu  khác của những năm 1960.29

1.11 Kuala Lumpur International Airport, Sepang, Malaysia. Interior of satellite. Kisho Kurokawa
and Akitek Jururancang (Malaysia), with Hijjas Kasturi, 1995–7. Each satellite incorporates a tropical
garden in its centre. Photo: Author.
1.12 Giga World, Kuala Lumpur, Malaysia. Aerial perspective. Original Scope with KL Linear
City, 1996. Project combines residential and commercial buildings together with transportation systems
in linear structure running through centre of city. The structure passes over River Klang for much of
its length. Source: Original Scope.

1.13 Giga World. Section over River Klang showing parallel metro system. Source:Original Scope.
1.14 Decentralization in Singapore. Expansion is concentrated around decentralized commercial centers along mass rapid transit (MRT) routes.
Source: Urban Redevelopment Authority, 1991.

1.15 Expo Station, Singapore. Norman Foster, 1997–2001. A recent addition to Singapore’s extensive metro system. Photo: Richard Bryant.
Nhìn vào những cấu trúc đô thị đông đúc, thường được bao gồm những đơn vị rộng lớn cao tầng, tôi băn khoăn về những dự án mang tính ‘nhiệt đới ’ như thế nào. Tàn tích của những ý tưởng về những kiểu định cư cho khu vực khí hậu nhiệt đới là Kampong, bằng sự rải rác tách biệt và những khu ở gia tăng tột độ ảnh hưởng về sự coi thường chuyển động của không khí. Những dự án thành phố vườn và những khu ngoại thành đông đúc hiện đại đã tạo ra những kiểu mẫu giống nhau, tạo ra những cảm quan tốt về khi hậu. Cũng lý do như vậy, những block đóng kín theo kiểu Châu Âu, rút ra từ những vùng khí hậu ôn đới, không quan tâm đến cây xanh bị che phủ thế nào.

Vấn đề là sự hiện đại, những khu định cư mật độ thấp, bất chấp tính phổ biến hiển nhiên của chúng, gốn đi rất nhiều đất đai và có lẽ chỉ tăng thêm sức ép cho sự phá rừng. Những tác động như vậy sẽ giảm bớt bởi những quy hoạch thận trọng. Một phần ba tổng diện tích đất của Multi-media Supercorridor sẽ được dành cho những dải cây xanh rộng lớn, bao gồm những khu rừng và những dòng sông được bảo tồn. Cả việc sử dụng đất và toàn bộ sự lệ thuộc vào ô tô sẽ giảm đi bởi sự tập trung và những thành phố mới theo tuyến giao thông công cộng – mass rapid transit (MRT) theo kiểu ‘strings of beads’ theo sau mô hình của Singapore (ảnh 1.14 và 1.15). Được dự phòng bởi “bus and ride” cũng như hệ thống ‘park and ride’ như những ‘Constellations – chòm sao’ của những đô thị và những thành phố nhỏ sẽ là những kiểu mẫu hứa hẹn cho sự phát triển đô thị mới mang tính xác thực.

Phân tán

Tuy nhiên, sự tranh luận giữa thành phố tập trung mật độ cao và nhữngthành phố vườn mật độ thấp - cả trong căn nguyên những ý tưởng ở phương Tây – có lẽ đều bị làm cho sai lệch. Những loại hình định cư đô thị mà tiêu biểu cho sự bùng nổ các thành phố lớn – Megacities của Châu Á Thái Bình Dương là một sự diễn tả xác đáng nhất như là ‘một sự phân tán cao - dispered high-rise’, and fits into neither of the previous categories but has its own imperatives and typical built forms, best dealt with in their own terms.32 Sự kết hợp các lợi thế của chi phí giao thông công thấp, phức hợp các nhóm xã hội, tiện nghi và những nơi có đặc trưng mạnh mẽ tập trung lại thành một đơn vị riêng rẽ để rồi lại có thể phát tán, với một sự thân thiện với tự nhiên và sự cởi mở với những sự chuyển động của không khí mà sự phân tán có thể đem lại, những thành phố phân tán cao gợi mở một sự thoả hiệp mang tính khả thi. những không gian rộng rãi giữa những toà nhà cao tầng chi tách bởi các khoảng xanh cũng cho thấy một ưu điểm của việc giảm thiểu ảnh hưởng của ‘heat-sink’ (sự gia tăng nhiệt bên ngoài bởi sự toả nhiệt từ các cấu trúc công trình và hệ thống kỹ thuật phụ trợ) liên đới với những khu vực xây dựng liên tục, mà hậu quả là sự gia tăng vi khí hậu đô thị lên vài độ so với khu vực nông thôn.33

1.16 Ardmore Condominium, Singapore. Moshe Safdi,1984. Pioneering high-rise design features two-storey skycourts, one of earliest of its type. Photo: Cymie Payne
1.17 Abelia Condominium, Singapore. Tang
Guan Bee, 1990–4. Like Safdi building, each
maisonette is planned around two-storey openairliving space.
Photo: Tangguanbee
1.18 Mesiniaga Headquarters, Kuala Lumpur, Malaysia. Hamzah
and Yeang, 1989–92. Definitive early example of architects’‘bioclimatic
skyscraper’ concept. The building incorporates open-air skygardens
and climate control techniques based on regional traditions. Photo:Hamzah and Yeang
.
1.19 Telekom Headquarters. Detail of spiraling skygardens showing steel supports. Photo: H. Lin Ho.
1.20 Telekom Headquarters, near Kuala Lumpur, Malaysia.
General view with central Kuala Lumpur in the distant background.
Hijjas Kasturi, 1997–2002. Photo: H.Lin Ho.
Nhìn nhận một cách khách quan, một dạng nhà cao tầng, thích hợp với khu vực thương mại trung tâm và những thành phố mật độ cao, có lẽ có quyền được hưởng một hoạt động mới, như một dạng công trình đô thị. Những kiểu mẫu ở thích hợp có thể tìm thấy ở Đông Nam Á, ví như những block mảnh khảnh ở Singapore được thiết kế bởi Moshe Safdi (ảnh 1.16) và Paul Rudolf vào những năm 1980, và nhỏ hơn và gần đây hơn Abelia Condominium bởi Tan Guan Bee .34 (ảnh 1.17). Những loại hình tương tự đã được phát triển cho nhu cầu về thương mại, và không chỉ trong những trung tâm đô thị. Công trình ‘bio-climatic skyscraper’ được thiết kế bởi Kenyeang.35 cho trụ sở của Mesiniaga (ảnh1.18) và trụ sở của Telekom bởi Hijjas Kasturi (ảnh 1.19 và 1.20), cả hai đều gần Kuala Lumpur, toạ lạc ở những vị trí rất đẹp bên ngoài thành phố, tạo thành những điểm nhấn khác thường trong một khung cảnh ngoại vi thành phố không lấy gì làm nổi bật. Nhất là những toà nhà sau này, với những tượng đài khổng lồ được xây dựng giống như những ngọn đồi nhân tạo và hàm chứa nhiều dạng văn hoá khác nhau, tự nó đã tạo thành những điểm nhấn đô thị. Tất cả những toà nhà cao tầng, cả nhà ở lẫn thương mại, những cấu trúc có những khoảng lùi vào rõ ràng như ‘sân trời’ và những đặc điểm tham gia khác được tạo tác bởi khí hậu địa phương là dấu hiệu đặc trưng rõ ràng của chúng thích ứng với môi trường xung quanh.36

Dây xích và cái tời


Tất cả hhững sự cách tân và những thuộc tính khu vực, những mong muốn của cộng đồng và những nguồn lực của thị trường đằng sau những công việc đó không kém phần mạnh mẽ hơn những tiêu chuẩn khí hậu tạo ra chúng theo một cách khác thường như vậy. Mỗi một công trình đứng trên ít nhất 2 nền văn hoá, người tiêu dùng và sinh thái học, đô thị và ngoại vi đô thị, theo hướng không tuân theo những dạng mẫu dập khuôn. Có thể là một dạng thoả hiệp hơn là một sự vứt bỏ văn hoá tiêu thụ vì sự thiên vị cho một lối sống hoàn toàn mới mà cuối cùng sẽ đưa ra một giải pháp cho các vấn đề về môi trường mà chúng ta nhận thấy ở xung quanh vùng Pacific Rim và bất cứ đâu. Sự hình dung về những nguồn văn hoá mới và những mức sống không vì thế mà có nghĩa rằng chúng ta sẽ tự động đưa ra tất cả những phương thức sáng tạo, như chúng ta tưởng tượng ra, như những con bướm tự thân chúng sẽ hình thành dưới một cấu trúc sống hoàn toàn mới.

Điều này cũng không hại gi. Nếu thế kỷ cuối dạy chúng ta một điều gì đó thì đó chính là những sự thay đổi mang tính cách mạng về những thể loại có giá trị bị quét sạch như những thứ bỏ đi. Nhưng chúng ta không phải là sợi dây xích, chờ đợi sự tái sinh dưới một hình thức mới. Chúng ta giống như những cái tời thì đúng hơn, vẫn xinh đẹp có đất bao quanh và bám lấy cấu trúc gia đình, chuyển dịch theo phương ngang cũng như phía trước, và không thay đổi trong tuổi đời, không thể nhận ra sự thay đổi trong tự thân để biết rằng chúng ta là ai, và chúng ta từ đâu tới . Hình thể cuối cùng sẽ như thế nào. một kỷ nguyên Pacific sẽ hiện ra thích hợp nhất như một sự tích hợp của 4 nền văn hoá, nếu những sự tích hợp khác nhau của các phần khác của thế giới sẽ có những truyền thống khác nhau, lịch sử thuộc địa khác nhau, những thói quen tiêu thụ khác nhau, những hình thái xã hội khác nhau thì đó cũng là một sự phức hợp mang tính hiển nhiên.

Giống như tổng thể các sức cạnh tranh khác nhau. Kỷ nguyên Pacific là một khái niệm văn hoá tạo ra mà không có điểm khởi đầu cụ thể nào - trừ phi ai đó muốn tin vào BBC – và không có một điểm đến và một mục đích cụ thể nào, có khả năng thay đổi hướng ngay khi chúng ta nghĩ rằng chúng ta biết rằng chiều hướng nó sẽ phát triển thế nào. Chúng ta không nên trông đợi vào văn hoá tiêu thụ bị thay đổi hoàn toàn bởi Eco-culture, những gì thay thế những giá trị trước đây đã bị đào thải bởi những thành tựu văn hoá mới.37 Nhưng dù cho eco-culture không phủ nhận sự bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, hoặc cơ chế thị trường máy móc mà đã củng cố vững chắc nền văn hoá đó, chúng ta có thể hy vọng một cách thực tế về một sự tác động rõ ràng hơn dựa trên những cơ chế tương tự. Điều này đã xảy ra trong trường hợp của ‘nền kinh tế xanh’ mới mà đã hiểu được cái giá của rác thải và ô nhiễm, và kết hợp với sự vận động của người tiêu dùng bị đối xử thiên vị trong việc xem xét sản phẩm hàng hoá và nguồn gốc vật liệu. Giống như sự gia tăng với sức mạnh của một đạo luật mới dựa trên sự điều hành xu thế chung và sự bảo toàn năng lượng của địa phương và hình thức hoạt động thuế khoá khuến khích sự thay đổi cơ cấu cố hữu của thị trường và cổ vũ cho những dự án sử dụng công nghệ có tính xác thực cao.

Chấp nhận áp lực của những tiêu chuân đó sẽ có thể xẩy đén từ những hướng đối lập: trên đỉnh xuống, từ những tổ chức trung gian quốc tế và những hội nghị, hay từ dưới lên, từ những tổ chức môi trường địa phương và NGOs khác kích động cho những hiệu quả và những tiêu chuẩn phù hợp.40 Những nhà lãnh đạo địa phương sẽ phản ứng ra sao trước những áp lực trên, cho dù họ kháng cự lại chúng như họ đã làm hầu hết là thiên vị cho những lợi ích trước mắt, hoặc dù cho họ tự giác chấp nhận một tình hình mới, đều sẽ là một trong những yếu tố định ra sự cân bằng cho các dạng văn hoá.

Rung động pha trộn
Tương tự như vậy, chúng ta có thể trông chờ một nền kiến trúc nổi bật nên từ những góp nhặt từ công nghệ, những giá trị và thực hành, trở thành nhiều thể loại tương tự nhau. Không nghi ngờ rằng chúng ta nhìn thấy nhiều những cao ốc những ví dụ của kiến trúc hậu hiện đáp ứng yêu cầu khách hàng như trường hợp của toà tháp Petronas – Ta có thể gọi ‘ kiến trúc của sự quảng bá tự thân – architecture of self-advertisment’ này là gì – song hành với những giá trị nội địa tương đương nhưng nhỏ bé hơn là những toà biệt thự ngoại ô loè loẹt. Những kiểu dáng kiến trúc mang tính quốc tế, tốt hơn hoặc xấu hơn, có lẽ được trông đợi để đóng một vai trò trong việc định hướng giáo dục, quan điểm và sự sáng tạo cho những kiến trúc sư bản địa. Tuy nhiên, chúng ta cũng trông chờ nhiều những thể loại kiến trúc đã miêu tả ở trên: thực hành những sản phẩm nhu cầu xã hội cũng như nhu cầu thương mại và những kiểu dáng kiến trúc, được củng cố bởi những điều luật có hiệu quả nhằm tiết kiệm năng lượng và giảm thiểu ô nhiễm (ảnh 1.21). Ít nhất, rất tuyệt khi nghĩ rằng trong một tương lai nào đó chúng ta sẽ nhìn chằm chằm và rung động trước những sự pha trộn này dưới nền trời sáng rõ.


1.21 Octville Sri Alam Golf and Country Club, Johore Bahru, Malaysia. Akitek Tenggara,
1989–92. Neo-constructivist composition of clashing geometries and intersecting planes. Design also
incorporates passive techniques of climate control. Photo: Robert Lam.

NOTES AND BIBLIOGRAPHY
20 Originally published in Abel, C. (1997b). Architecture and Identity: Towards a Global Ecoculture. Architectural Press, Oxford, p. 208.
21 For a critical analysis of the interrelations between urban and rural development
and associated work and economic patterns, see Rigg, J. (1997).
22 For an example of CAP’s approach, see Idris, S.M.M. (1990). For a Sane,
Green Future. Consumers’ Association of Penang, Penang.
23 Domestic architecture, both traditional and modern, provides clear evidence
of an archetypal Pacific House. Abel, C. (1994). ‘Pacific House’, The
Architectural Review, Vol. CXCVI, No. 1171, September, pp. 50–53.
24 See Chapter 16 in Abel, C. (2000, 2nd edition).
25 Jacques, M. (1997). ‘Malaysia takes a leap into future’, Guardian Weekly,
6 April, p. 23. Also Fuller, T. (1997). ‘Malaysia’s wired Super Corridor’,
International Herald Tribune, 15–16 November, pp. 1 and 6.
26 A key plank in the Malaysian government’s declared aim to turn itself into
a developed country by the year 2020, the Supercorridor appears so far to
have escaped any cutbacks. See Fuller, T. (1997). Also Hamid, A.S.A., ed.
(1993). Malaysia’s Vision 2020. Pelanduk Publications, Petaling Jaya.
27 Similar predispositions towards clear-cut spatial patterns were observed
amongst Western architects by the urban theorist Melvin Webber in a
seminal essay on urban dispersal. Webber, M.M. (1964). ‘The urban
place and the nonplace urban realm’. In Explorations into Urban Structure
(Webber, M.M., et al., eds), pp. 79–153. University of Pennsylvania,
Pennsylvania.
28 Tay, K.S. (1989). Mega-Cities in the Tropics. Singapore: Institute of Southeast
Asian Studies. KL LinearCity SDN BHD (1996). KL LinearCity. KL LinearCity
SDN BHD, Kuala Lumpur. Architectural Record eds (1997). ‘A new record
for Kuala Lumpur? The world’s longest complex’, Architectural Record,
February, p. 30.
29 For an early critique of the megastructure idea and an argument for urban
dispersal, see Chapter 2 in Abel, C. (1997).
30 For a further discussion, see Chapter 18 in Abel, C. (2000, 2nd edition). See
also Abel, C. (2003c).
31 Radford, T. (1997). ‘Around the corner: the 80mpg clean air engine’, The
Guardian, 23 October, p. 3.
32 See note 30.
33 According to Tay Keng Soon, the difference in temperature in the tropics
can be as much as 5C higher for dense urban areas than for open countryside.
Tay, K.S. (1989). Given this effect, it is unlikely that the inclusion of
vertical landscaping into the sorts of ultra-high density projects Tay advocates
would reduce this difference by any significant measure.
34 Abel, C. (1994). ‘Verdant vertical living’, The Architectural Review, Vol. CXCVI,
No. 1171, September, pp. 32–5.
35 For a detailed account of the architect’s approach, see Yeang, K. (1996).
The Skyscraper Bioclimatically Considered. Academy Editions, London. Also
Yeang, K. (2002).
36 For a brief historical overview of the new tower type and its predecessors
see Chapter 15 in Abel, C. (2000, 2nd edition). See also Abel, C. (2003c).
37 Many former colonial attitudes and practices have survived all too well in
the way developed nations and multi-national corporations conduct their
business with developing nations, and are at least partly to blame for the
deteriorating environment. Raghavan, C. (1990). Recolonization. Third
World Network, Penang. By contrast, both traditional and colonial architecture
provides continuing inspiration for contemporary regionalists. See
Chapters 12–18 in Abel, C. (2000, 2nd edition).
38 Kirby, J., O’Keefe, P. and Timberlake, L., eds (1995). The Earthscan Reader
in Sustainable Development. Earthscan, London.
39 A report by the US Energy Department suggests that even without green
taxes and other measures, research and development costs of new technologies
to reduce carbon monoxide to 1990 levels by 2010 would be offset
by energy savings alone. Hamilton, M.M. (1997). ‘Technology can cut
pollution’, Guardian Weekly, 5 October, p.16. Other reports suggest that
improving environmental practice is good for business as well as for the
environment. Trapp, R. (1997). ‘Don’t let profits go up in smoke’, The
Independent, Section Two, p. 18.
40 Ekins, P. (1992). A New World Order. Routledge, London.

(Hết chương 1)

Nhãn:

0 Nhận xét:

Đăng nhận xét

Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]

<< Trang chủ