Nguyễn Hoàng

"...từ trong chính bạn hãy sửa chữa những khuyết tật của dân tộc mình ... Garcia Marque

Thứ Năm, 20 tháng 11, 2008

Kiến trúc công nghệ và quy trình - Chris Abel - Chương 4.2

CHƯƠNG 4.2
FOSTER AND GEHRY: ONE TECHNOLOGY; TWO CULTURES

Sự đổ vỡ
Theo một loạt các thiết kế nhà ở đơn lập, như toà nhà Schnabel (ảnh 4.9a-c), với những thành phần phức hợp của nó, và nhà nghỉ Winton (ảnh 4.10) với sự phi trọng tâm và một mặt bằng đẹp nổi tiếng, ở đó Ghery đẩy chủ đề về sự phân rã lên cao độ. Thích nghi bởi sự phân tách thành một số các khối tích hoàn chỉnh khác nhau, Ghery đã thiết kế mỗi toàn nhà như một hỗn hợp của nhiều toà nhà nhỏ trông chúng giống như một ‘ngôi làng ’ kỳ cục hơn là một toà nhà đơn lẻ. Ông tin rằng càng chia thành nhiều phần như vậy chúng càng có nhiều ý nghĩa: Tôi thích nhất là việc đập vỡ các thành phần của một công trình ra thành nhiều phần riêng biệt hết mức có thể…Do đó, thay vì ngôi nhà là một mẫu vật, thì nó sẽ thành mười mẫu vật, nó cho phép khách hàng cảm thấy lôi cuốn hơn, bởi vì bạn có thể nói, ‘Tốt rồi, tôi đã có mười hình ảnh và bây giờ bắt đầu sáng tác ngôi nhà của bạn. Những hình ảnh đó có thể liên hệ tới bất cứ một thứ biểu tượng nào, ý niện nào mà bạn thích, nơi chốn nào mà bạn thích, những trường đoạn nào của cuộc sống mà bạn muốn nhắc lại’.2 (Burns,1990,pp82-3)


4.8 Santa Monica Place Garage, Santa Monica, California, USA. Frank Gehry, 1980. Photo: Tim Street-Porter/Esto.


4.9 Schnabel House, Brentwood, California, USA. Elevations of living rooms (a), master bedroom (b), and plan (c). Frank Gehry, 1986–9. Source: F. Gehry, 1999.
4.10 Winton Guest House, Wayzata, Minnesota, USA. Frank Gehry, 1985–6. Photo: Mark Darley/Esto.
4.11 Winton Guest House. Plan. Source: Progressive Architecture, December, 1987.

Trong trường hợp khác, dù cho toà nhà có đứng đơn lẻ hay không, như ngôi nhà Winton, hoặc đứng gần một toà nhà khác, như trường hợp toà nhà Norton, sự đổ vỡ được nhìn nhận bởi Ghery - quả thực như vậy nó đã và vẫn được rất nhiều thiết kế gia đương đại xem như một phương sách hiệu quả nhằm đả phá những định kiến và cổ vũ cho những sự kết hợp mới. Những chủ đề tương tự kết nối tới nột tại của Ghery tới sự công khai rộng rãi về những sản phẩm Hậu hiện đại của ông trong cùng một giai đoạn, ví dụ như ngôi trường luật Loyola (ảnh 4.12), cũng ở Los Angeles. Giống như ‘những ngôi làng’ nói trên, chúng được chia tách thành những thành phần riêng biệt, mỗi thiết kế có một thứ ngôn ngữ khá khác biệt nhau về cấu trúc, kết hợp một cách tự do trong thời đại của những thể loại trừu tượng theo lối kinh điển, với ý đồ gán cho những thành phần khác nhau những đặc tính riêng biệt. Tuy nhiên, trong khi kiến trúc cổ điển thường sủ dụng những hình thái cấu trúc bắt nguồn từ Châu Mĩ và hoặc đại loại như vậy. Ghery với ngôn ngữ tự do thoải mái – trình bày ở đây một nhóm cột như bị lấy đi – bóng gió về sự đổ vỡ của một ngôi đền! – như một sự mỉa mai. Nét đặc biệt của Disneyland, đưa ra một tổ hợp nhiều thể loại cảm quan địa phương, một phần cơ quan, một phần thương mại.
4.12 Loyola Law School, Los Angeles, California, USA. Frank Gehry, 1981–4. Photo: Tim Street- Porter/Esto.

4.13 TBWA Chiat/Day Building,Venice, California, USA. Frank Gehry, 1985–91. Photo: Hisao Suzuki.


Trong công trình TBWA Chiat/Day (ảnh 4.13), Venice, thiết kế nhằm mục đích quảng cáo cho chiến dịch vận động ‘Be Different’ của công ty máy tính Apple, Ghery đi xa hơn nữa trên con đường của mình. Trông nó giống như một cái ống nhòm khổng lồ dựng đứng trên mặt đường chính bị kẹp vào giữa một bên là ấn tượng theo kiểu cấu trúc như những tán cây và một bên là kiểu nhà văn phòng bình thường. Thiết kế cùng với một nhà điêu khắc Claes Oldenberg nổi tiếng với sự tiêu khiển với những đồ đạc quen thuộc hàng ngày – Toà nhà có ý định làm lu mờ đi đặc tính giữa kiến trúc và nghệ thuật quảng cáo, cố gắng gây sự chú ý của người đi mô-tô qua lại như bất cứ một biển quảng cáo nào khác.3
4.14 Entertainment Centre Euro-Disney, Paris, France. Frank Gehry, 1988–92. Photo: Peter Aaron/Esto.

Toà nhà Chiat/Day thành công một kiến trúc công cộng cũng như sự tai tiếng trong giới nghề nghiệp. Thời gian đó Ghery chủ trương một thứ kiến trúc mà giống như Andy Warhol đã vẽ, một sự lang thang tới một nơi nào đó nằm giữa tính nghệ thuật và thương mại hay chỉ nhằm khuấy động như một cuộc tranh luận. Trung tâm thương mại Euro Disney (ảnh 4.14) gần Paris, khẳng định tài nhìn nhận của Ghery về sự kết hợp những hình ảnh kỳ lạ và những hình ảnh thương mại có thể đi tới một sự kết thúc hợp lý. Nó cũng đánh dấu sự kết thúc thực sự sự lưu luyến của kiến trúc với kiểu quảng cáo thương mại bản địa - hoặc ít nhất với sự biểu lộ thẳng thắn của nó - đã thay vào đó những sự thích thú khác lạ.
Phương pháp kết hợp
Khó có một sự tương phản nào mạnh mẽ hơn sự tương phản giữa sự vận động tinh tế về cấu trúc và sự không quan tâm đến những thông lệ của Ghery và công trình của Nosman Foster thời kỳ đầu ở UK. Tương phản với các cấu trúc đóng-mở và sự rạn vỡ của Ghery, chúng ta nhìn nhận công trình của Foster trong một sự mạnh mẽ tương tự những trái ngược về mong muốn hoà nhập – trong cả hai tiến trình và trong cả thành phần của công trình. Trái ngược với chủ nghĩa ngữ cảnh và việc sử dụng những vật liệu đặc biệt của Ghery, chúng ta thấy rằng Foster tập trung vào việc giải toả ngữ cảnh, tiêu chuẩn và những cấu trúc mang tính phổ quát - những đặc tính cốt lõi của chủ nghĩa hiện đại chính thống. Trung tâm Sainsbury (ảnh 4.15) minh hoạ cho các công trình của Foster thời kỳ đầu: một cấu trúc đều đặn ôm lấy một công năng trong một thể thống nhất, sử dụng linh hoạt hoặc ‘không gian khái quát’ thiết kế cho phép mọi sự thay đổi cả bên trong lẫn bên ngoài. Tuy nhiên sự mâu thuẫn sớm nảy sinh trong quá trình hoạt động thực tế với các công trình của Foster thời kỳ đầu, về căn bản là sự công nghiệp hoá thái quá của nó hay trạng thái quốc tế hoá. Trong suốt thời gian đó Foster tạo dáng theo phương pháp quen thuộc của ông ta điều mà ông gọi là ‘design development’ , nhưng tôi thích gọi một cách đơn giản hơn là ‘integrated design’.4 mà trung tâm Sainsbury là một minh hoạ rõ ràng nhất. Một cách vắn tắt, thiết kế hoà nhập là sự gắn bó một cách thân thiết hết mức có thể với mọi người và với nền công nghệ - những người là một phần của công trình và đặt tất cả chúng lại với nhau, từ sự khởi đầu của quá trình thiết kế và tới sự hợp lý cùng tận. Điều đó có nghĩa tốt nhất là phải tập hợp một nhóm kỹ sư kề cận, như Loren Butt và ‘Chubby’ Chhabra, những người đã làm việc với Foster để đảm bảo việc thực hiện những ý tưởng về không gian, những cấu trúc và hệ thống môi trường, được quan niệm là một chúng làm việc hài hoà với nhau từ lúc khởi đầu cho tới kết thúc cùng với những nhà tư vấn ngoại vi, như Foster đã làm với những kỹ sư như Anthony Hunt hoặc Tony Fitzpatrick của Ove Arup, những người mà bản thân họ đã là những nhà thiết kế đầy sáng tạo. Tóm lại nó được miêu tả như một sự công tác một phương pháp thiết kế có liên quan tới nhiều lĩnh vực học thuật tiếp cận những vấn đề về cấu trúc, sự chế tạo, công nghệ xây dựng và môi trường.
4.15 Sainsbury Centre for Visual Arts, Norwich, UK. Cutaway isometric of structure. Norman Foster, 1974–8. Source: Foster and Partners.
Tất cả những điều đó, đương nhiên nghe có vẻ như ngôn ngữ của những nhà hiện đại chủ nghĩa chính thống. Loại trừ rất nhiều những toà nhà thất bại không thể đếm xuể mà chúng ta đã biết, sự hợp nhất ý tưởng không có sự xuyên xuốt thực sự. Điều gì làm lôi cuốn các nhà Hiện đại chủ nghĩa thời kỳ đầu quan tâm, chỉ như rất nhiều các thiết kế gia ngày nay là những hình ảnh mang tính hiện đại hơn là quan tâm đến công trình đó được làm ra như thế nào, hoạt động ra sao và giá trị của chúng.5 Mỗi nghề nghiệp phát triển theo một hướng khác nhau nhưng những gì chúng ta có ngày hôm nay là những mảnh vỡ của một nền công nghiệp kém kỏi, nơi có rất nhiều những khoảng trống về ngôn ngữ, chuyên môn và những giá trị phải được xác định trong mỗi và tất cả các dự án.
4.16 Sainsbury Centre For Visual Arts. Two of original aluminium cladding panels. Photo: Richard Davies.

Trong việc thực hành hiện nay, phương pháp của Foster hàm ý nghĩa như vậy, bề ngoài mang dáng vẻ sản phẩm của phương phức sản xuất hàng loạt, từ giữa những năm 1970 hướng tới mỗi thành phần của hệ thống là những sản phẩm lắp ghép đặc biệt hoặc là làm cho thích hợp với một dự án đặc biệt nào đó. Ví dụ, trong khi những thành panel bằng kim loại (ảnh 4.16) dành cho trung tâm Sainsbury, với đặc tính xếp nếp của nó, chúng đã khoác lên mình tem mác của dòng sản phẩm công nghiệp, cũng giống như những tấm panel của old Citroen car (?) được thán phục bởi Le Corbusier, trên thực tế chỉ có duy nhất một toà nhà đó và chúng đã được làm bằng phương pháp thủ công sử dụng các loại gỗ rẻ tiền. Tiêu chuẩn gì cho chúng nhằm làm giảm mức độ chênh lệch trong bản thân các công trình, hẳn có nhiều việc phải làm với những ý tưởng quy hoạch linh hoạt của Foster như bất cứ điều gì khác. (…xem tiếp C4.3)

Nhãn:

0 Nhận xét:

Đăng nhận xét

Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]

<< Trang chủ