Nguyễn Hoàng

"...từ trong chính bạn hãy sửa chữa những khuyết tật của dân tộc mình ... Garcia Marque

Thứ Ba, 2 tháng 12, 2008

Kiến trúc công nghệ và quy trình - Chris Abel - Chương 4.3

Architecture, Technology and Process
Chương 4.3
Foster và Gehry - công nghệ và văn hóa
LATE DEVELOPMENT
Changing values
Đã có những sự thay đổi trong những công trính của Foster, đầu tiên là sự tinh tế cũng như những dấu hiệu về những thay đổi quan trọng về giá trị. Ở Willis Faber và Dumas HQ (ảnh 4 .17) trong thành phố Ipswich già nua, là một ví dụ, bức tường kính nổi tiếng thuộc chủ nghĩa tối giản được thiết kế đặc biệt hướng lên các đường cong trên tường, có xu hướng đi theo kiểu bao quanh các đường phố thời trung cổ. Hệ thống điều hòa và chiếu sáng nhân tạo tiên quyết bởi những mặt bằng được xắp xếp hệ thống sâu sắc của Foster, đã được bổ trợ thêm bởi những lợi ích của việc tiết kiệm năng lượng và sự khéo léo trong việc sử dụng ánh sáng tự nhiên từ trên mái với những hình thức gây xúc động lòng người (ảnh 4.18)




Tất cả các công trình của Foster cho tới thời điểm này che đậy chính cấu trúc của nó nhìn từ phía ngoài bằng những tấm áo choàng, chỉ cho phép nhìn thấy một phần khung xương bên trong như trường hợp của trung tâm Sainsbury hoặc vào buổi đêm ở Willis Faber và Dumas, khi những đường viền mỏng mảnh và các sàn nhà được chiếu sáng. Trung tâm Renault (ảnh 4.19) thử nghiệm với những cơn gió với hình dáng lênh khênh, màu sơn vàng, và cấu trúc cột buồm, vươn ra khỏi tấm áo choàng của công trình trong một sự cường điệu của chủ nghĩa biểu hiện. Dựa trên những modul mái lặp đi lặp lại, mỗi thành phần của hệ thống được làm theo yêu cầu của khách hàng, hàm ý theo những cấu trúc kim loại của người La Mã cổ đại với sức căng của những liên kết mái cho tới những lỗ thủng ở chỗ những dầm chữ I.6 Giống Gehry, trong suốt giai đoạn này Foster luôn tìm kiếm những công năng mới cho những thứ cũ rích hoặc những thứ vật liệu ‘non-architectural’, thường vay mượn từ những nghành công nghiệp khác. Tấm tường thép ban phủ ở trung tâm Renault là ví dụ, chúng được sử dụng để làm vật liệu bao che cho những kiểu nhà lư động trong khi những khớp nối động ở băng vải (ảnh 4.20) xuất phát từ những tấm chắn của loại tàu di chuyển nhờ đệm không khí. Rập lại với nhau thành những mảnh và được cố định bởi những lò xo đàn hồi. Những chi tiết đó có vẻ như chúng không được trau chuốt lắm giống như những công trình thời kỳ đầu của Gehry.

4.17 Willis Faber & Dumas Headquarters, Ipswich, UK. Detail of glass wall. Norman Foster, 1971–5. Photo: John Donat.
4.18 Willis Faber & Dumas Headquarters. Interior view of atrium and escalators. Photo: John Donat.
4.19 Renault Distribution Centre, Swindon, UK. Norman Foster, 1980–2. Photo: Dennis Gilbert.
Những giá trị bản địa
Nếu trung tâm Renault đánh dấu một giai đoạn mới trong sự nghiệp của Foster – không dẽ đoán trước từ những công trình theo chủ nghĩa tối giản – và đã sớm bị lu mờ bởi ngân hàng Hongkong (ảnh 4.21), gây một sự bất ngờ cho giới kiến trúc và phê bình trên toàn thế giới.


4.20 Renault Distribution Centre. Detail of flexible eaves showing spring fixings. Photo: Dennis Gilbert.
4.21 Hong Kong Bank, Hong Kong. Overhead view. Norman Foster, 1979–86. Photo: Author.

Trong khi đang chờ đợi một sự nhập khẩu hoàn toàn từ phương Tây, điều tôi thực sự cảm thấy không lâu trước khi công trình hoàn thành là một sự thuyết phục hoàn toàn về một kiến trúc cao tầng điển hình ở vùng Đông Á điều tương tự như đối với tòa nhà Century Tower ở Tokyo sau này. Hầu hết các kiến trúc sư cho tới bây giờ đã quen với những đặc điểm lạ lùng của tòa nhà, nên tôi không đi vào chủ đề chính với quá nhiều chi tiết, tôi chỉ nhấn mạnh vai trò của người Nhật Bản giữa sự cường điệu về cấu trúc và sự trong sáng và minh bạch giúp cho thiết kế có những đặc điểm mang tính bản địa (ảnh 4.22). Sự biểu lộ rõ ràng rằng làm sao mà tất cả các chi tiết trong công trình kết hợp và chan hòa ánh sáng tự nhiên đến vậy – tất cả những điều kiện tiện nghi mà chúng ta quen thuộc bắt nguồn từ những giá trị truyền thống của người Nhật Bản. Bản chất khác biệt giữa các công trình quá khứ và hiện tại là như vậy, thay cho công việc thủ công, toàn thể công trình được tạo ra bằng máy móc. Ngành nghề thủ công được kết hợp với công nghệ CAD/CAM, bao gồm cả robot thợ hàn và máy cắt CNC (computerized numerically controlled) những thứ đại loại như vậy chưa bao giờ được ứng dụng trong xây dựng với những quy mô tương tự như vậy.


4.22 Hong Kong Bank. Interior of atrium with suspended glazed structure over entranceway. Photo: Ian Lambot.

4.23 Hong Kong Bank. CNC machines used in fabrication of cladding. Photo: Cupples.

4.24 Century Tower, Tokyo, Japan. Detail of twostorey high structural frames. Norman Foster, 1987–91. Photo: Martin Charles.

Chất lượng tương tự được tái hiện trong một cấu trúc tinh tế của tòa tháp Century Tower ở Tokyo (ảnh 4.24), mà Foster đã hoàn thành 5 năm sau đó. Một cấu trúc rõ ràng mang một ý nghĩa đặc biệt và chú trọng đến chi tiết – một sự hồi tưởng về phong cách Sikuya và những giá trị truyền thống khác – sự nỗ lực tôn vinh những giá trị Nhật Bản. Một tay bút thậm chí đã từng ví sự tôn kính của Foster như hành động của một thầy tu.8. Ở một dự án khác, trong khi tinh thần hướng ngoại của công trình Ngân Hàng Hongkong vẫn tiếp tục được xây dựng, Foster tiếp tục dấn thân vào một dự án quan trong ở Châu Âu có tên Carre d’Art (ảnh 4.25), một trung tâm đa văn hóa và truyền thông đại chúng tọa lạc ở thành phố La Mã cổ đại thuộc Nime, nước Pháp. Một sự ứng dụng trong ranh giới của bối cảnh chủ nghĩa hiện đại, Carre d’Art trình bày một phương pháp tiếp cận đầy kính cẩn với WFD ở Norwich vào trong một địa thế đô thị đòi hỏi phải khéo léo và nhìn nhận một cách tinh tế đền thờ Roman đối diện mà vẫn giữ nguyên sự trung thành với chủ nghĩa hiện đại.9
4.25 Carre d’Art, Nimes, France. View from portico of Roman temple opposite. Norman Foster, 1984–93. Photo: Tim Soar.

Nhãn:

0 Nhận xét:

Đăng nhận xét

Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]

<< Trang chủ