Nguyễn Hoàng

"...từ trong chính bạn hãy sửa chữa những khuyết tật của dân tộc mình ... Garcia Marque

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2009

Kiến trúc công nghệ và quy trình - Chris Abel - Chương 4.5

CHƯƠNG 4 (PHẦN 4.5)
FOSTER & GHERY CÔNG NGHỆ VÀ VĂN HÓA

SHELTER AND TEMPLE
Divergent programmes
Tuy nhiên, nếu Foster và Gehry đều thống nhất về quan điển hướng tới sự quản lý tiến trình xây dựng và thiết kế công trình, họ không tương đồng một cách triệt để về các vấn đề quan trọng khác. Những điều quan trọng liên quan tới các thể loại công trình tiêu biểu và với mỗi kiến trúc sư: những nhà máy, văn phòng, và sân bay đại diện cho Foster; khu ở, phòng hòa nhạc, bảo tàng đại diện cho Ge, cả hai lĩnh vực này hiện nay của hai kiến trúc sư hiển nhiên rộng lớn mức độ chọn lựa trên, tiếng tăm nghề nghiệp của mỗi nhà thiết kế đã lớn mạnh lên nhờ phương thức giải quyết đối với mỗi thể lọai riêng biệt đó. Trên thực tế thì những khách hàng mới luôn yêu cầu kiến trúc sư những chương trình tương tự, cũng phải nói thêm về sự nhận thức của cộng đồng trong công việc của họ, và làm thế nào chúng tương thích với xã hội trên một bình diện rộng lớn. Tầng lớp công nhân mà Foster có được ở Manschester đã ảnh hưởng một cách rõ ràng đến khung hướng của của ông trong việc cải thiện vai trò của công nhân, cho dù ở nhà máy hay văn phòng, mặc dù niềm tin của ông và các cộng sự về một xã hội hiện đại là như nhau. Ưu thế của hầu hết các công năng thông thường trong công trình của Foster, ngang với cách tiếp cận và ưu tiên vượt trội của các trung tâm văn hóa khác nhau và các khu ở riêng biệt của Ghery. Khi được mời giải quyết một thể loại công trình, mỗi kiến trúc sư cũng như các kiến trúc sư nói chung khác có khuynh hướng chuyển đổi một thứ ngôn ngữ và những kỹ năng biểu hiện mới hơn và các lập trình đặc sắc hơn, thành một phương pháp mới, hơn là bắt đầu trở lại. Trong khi mỗi kiến trúc sư tiếp tục mở rộng lĩnh vực của mình, thì những trải nghiệm với những thể loại đặc sắc khác vẫn tiếp tục ảnh hưởng tới tiến trình công việc của anh ta. Tôi đề xuất rằng, một cách cơ bản, sự phân chia về mối quan tâm và phận sự - nó cũ mèm như là lịch sử kiến trúc: giữa tính thiết thực và sự biểu hiện ở một mặt và mặt khác là nghệ thuật. Hay theo một cách khác là một nơi nương tựa hay một ngôi đền. 





Những sự phản đối có thể xảy ra chỉ là một sự so sánh phân cực khác, không làm đơn giản hóa đi mà mở ra nhiều những câu hỏi hơn - điều mà tôi đã mở lời ở đầu trang viết này. Không thiếu kịch tính và chất thi ca trong kiến trúc của Foster . Andreas Papadakis, biên tập của tạp chí Architecture Design một lần nói với tôi về công trình của Foster:’Những tòa nhà đang hát’.25 Nhưng điều gì đã dẫn dắt Foster bao trùm được một phạm vi rộng lớn như vậy, cơ bản vì chính ông là một nhà hiện đại chủ nghĩa, với ánh mắt lạc quan về một xã hội tốt đẹp hơn. Sự nghiệp sinh viên của Ge cũng có một số gạch đầu dòng về các ngôi nhà (không được xây dựng). Ngôi nhà đầu tiên của ông ở Los Angeles, không được nhắc đến như như những tòa nhà như Santa Monica Place và Chiat/Day phản ánh tầm văn hóa của thành phố đó, để minh họa việc thừa nhận con người bản địa và kỹ năng sáng tạo hiếm khi là ngang bằng nhau. Tuy nhiên, giải pháp thiết kế phản ánh những bước trải nghiệm và những mô hình của những công trình gần đây của Ge, đặc biệt là nhà ở Winton, những yếu tố mỏng mảnh và rời rạc gắn bó với mặt bằng của nó – đầy sáng tạo - dual geometries – và sự mềm mại và mang tính cá biệt cao với ngôi nhà Lewis.26 Điều còn lại trong những mối quan tâm của Ge về kiến trúc bản địa hầu hết bị hạn định bởi những bối cảnh riêng biệt, như trung tâm Mỹ ở Paris và Đại sứ quán Hà Lan ở Prague. Những chương trình xây dựng trở nên thông thường hơn, mặc dầu xuất hiện hết lần này đến lần khác, nhưng đều là của hiếm.


Exceptions
Những biệt lệ trứ danh về nguyên tắc là trụ sở quốc tế Vitra ở Birsfelden, Thụy Điển, và một nhóm ba tòa nhà văn phòng, Der Neue Zollhof (ảnh 4.44), Dusseldorf, một dự án đầu tư trên bến cảng cũ trước mặt gần với con sông Rhine. Tuy nhiên, trong cả hai sự cải tạo của Ghery, phương án thiết kế sau cùng của nó nằm trong số ít các thiết kế thiếu thuyết phục nhất của ông.
4.44 Der Neue Zollhof, Dusseldorf,Germany.View over site towards Rhine River. Frank Gehry, 1994–9. Photo: Author.


Công nghệ được sử dụng đã nói lên tất cả, tòa nhà văn phòng chiều cao trung bình với những hình khối bị uốn cong ở tòa nhà Dusseldorf, với cấu trúc phi đối xứng và những cửa sổ của nó, là một trong những niềm yêu thích trong gu kiến trúc của Ge.Chúng xuất hiện và được thiết kế với một chuẩn thị giác chủ yếu trong trí tưởng tượng. Tiêu chuẩn xây dựng nghiêm ngặt của Đức yêu cầu tất cả các phòng phải được thông gió tự nhiên và tất cả các nhân viên phải được ngồi làm việc gần cửa sổ. Trong khi thi hành các quy định nghiêm ngặt, diện mạo không gian văn phòng ở Der Neue Zollhof xuất hiện một cách đơn điệu và khô cứng. Mặc dù các ô của sổ cho phép sự thông gió một cách tự nhiên, kích thước khá nhỏ bé của chúng làm hạn chế tầm nhìn rất tuyệt qua bến cảng hướng về con sông Rhine (ảnh 4.46 và 4.47). Sự thâm nhập của ánh sáng sự nhiên vào trong phòng làm việc cũng vậy, bi hạn chế thậm chí cả vào những ngày sáng trời. Đây cũng là vấn đề của thiết kế đô thị và mỹ học. Trong khi một trong ba cấu trúc được che phủ bằng dạng vật liệu khác – gạch, vữa, hoặc, thành công nhất, inox – sử dụng cùng một modul của sổ giống nhau trên khắp tổng thể biểu hiện một sự bảo thủ và trông thật kinh khủng. Nói chung, bị áp đặt một thứ chịu sự thống nhất cao, chắc hẳn chẳng phải thứ mà Ghery mong đợi! Sự hiện diện càng rõ ràng bởi sự thiếu vắng sự tương tác của của các chi tiết công cộng với công trình ở tầng trệt. Đây không phải điều mong muốn theo bản báo cáo của ông, Ghery có ý định chia dự án ra thành ba cấu trúc riêng biệt cho phép người ta có thể đi lại một cách tự do qua khu vực xây dựng và mở ra các khung cảnh thông qua nó. Tuy nhiên, tất cả các diện tường chạy vuông góc với đường không có một modul và sự thay đổi chức năng nào khác, tạo ra một không gian mở chết chóc xung quanh tòa nhà mà chúng ta đã quen thuộc từ những thập niên hậu chiến tranh thế giới (ảnh 4.48). Sự thất vọng nhất là sự ảm đạm cứng nhắc tương phản với công trình của Ge ở Bilbao và Paris, mỗi nơi trình làng một diện mạo khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh, dường như không hoặc có rất ít sự liên hệ của công trình với những tác động khác nhau hiện diện trong khu đất xây dựng dù sau lưng là phố thị xôn xao và mặt tiền hướng vào trong qua con đường tới tiệm cafe nhộn nhịp đối diện, hoặc bến cảng rộng mở bên ngoài, hoặc bên kia hướng sang công trình kế cận, mỗi công trình trình bày cơ bản một diện mạo và đặc điểm giống nhau. Chỉ có mỗi mái sảnh nhỏ bé hướng ra đường cho biết mặt nào là chính.

4.45 Der Neue Zollhof. Detail of stainless steel cladding with mirror finish on middle building.Photo: Author.
4.46 Der Neue Zollhof.View from harbour. Photo: Author.


Dual planning concept
Ý tưởng quy hoạch kép
Thật không may cho Ge là một trong số những thử nghiệm của ông về thiết kế văn phòng hiện đại lại được thực hiện ở Dusseldorf, một thành phố nổi tiếng về những kiến trúc văn phòng cấp tiến nhất của Đức. Đáng kể đến là tháp tròn xoay ở Victoriaplatz 2 bởi Henrich-Petschnigg và cộng sự, Stadttor của Overdiek, Petzinka và cộng sự, hay mới hoàn thành gần đây nhất là tòa tháp ARAG của Foster.27 (ảnh 4.49). Cả ba tòa nhà trên đều là những kiểu mẫu về mô hình tiết kiệm năng lượng và no đủ về ánh sáng tự nhiên. Với vẻ bên ngoài không khác thường bằng nhóm công trình của Ge, nhưng mỗi công trình đó đề xuất một điều kiện làm việc hấp dẫn, bao gồm những trường nhìn phóng khoáng, sáng sủa và những không gian sử dụng linh hoạt, một vài cửa hàng, và tiệm cafe nhỏ kết hợp ở tầng trệt – rất đơn giản nhưng ta lại không tìm thấy điều thích thú này ở Der Neue Zollhof. Công bằng mà nói, cần phải biết rằng, theo Ge, Der Neue Zollhorf hoàn thành với một ngân sách hạn hẹp, và thực tế là một dự án kinh doanh thành công. Nói chung, Ge thành công hơn với tòa nhà Vitra International HQ ở Thụy sỹ (ảnh 4.50). Kết nối hai tòa nhà này với sự tương phản về hình học – một tòa nhà văn phòng hình hộp chữ nhật dài và một tập hợp các không gian mang tính điêu khắc được gọi là ‘Villa’ – tòa nhà hoạt động tốt ở tất cả các tầng cả về mặt thẩm mỹ lẫn môi trường làm việc. Một ý tưởng quy hoạch kép quen thuộc (ảnh 4.51) thích đáng với yêu cầu của khách hàng về một không gian linh hoạt của tòa nhà hình hộp chữ nhật, trong khi dành cho Ge một sự tự do cảm xúc cấu trúc tòa nhà ‘Villa’ với chức năng là căng tin và trung tâm xã hội. Như cái tên đã đề xuất, thiết kế này như một sự nứt vỡ của một nhóm các không gian giống nhau đã được biết đến qua các thiết kế khu ở của Ge bao gồm nhiều phòng họp khác nhau và trong những không gian riêng biệt.
4.47 Der Neue Zollhof. Interior detail of office window. Photo: Author.


4.48 Der Neue Zollhof. View from plaza. Photo: Author.
Rất khác lạ là tòa nhà Vitra HQ của Ge bản thân nó rất hiệu quả về năng lượng và thiết kế rất rõ ràng – thích ứng mới môi trường khí hậu. Không có một sự rủi ro nào như ở Đức, những quy định ở Thụy sỹ yêu cầu những tòa nhà văn phòng thông gió tự nhiên với những của sổ mở. Bảo vệ tường kính phía Nam khỏi ánh sáng mặt trời, Ge thiết kế một mái che bằng kim loại lớn trang trí ở cột vuông độc lập và một thanh giằng đỡ ban công lớn ở một cột khác. Kết nối sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ kiến trúc bằng một cầu nối cũng như là một không gian giữa văn phòng và ‘villa’, và một mái che vững chắc tạo thành một đặc điểm nổi bật.
4.49 ARAG Headquarters, Dusseldorf, Germany. Plan (a) and part section (b) showing two-storey skygardens. Norman Foster, 1993–2001. Photo: Foster and Partners.


Problematic issues
Những vấn đề nan giải
Tính hiệu quả cũng như sự thỏa mãn mà thiết kế của tòa nhà Vitra HQ mang lại là một ấn tượng lưu lại rằng đó là một trong những ngoại lệ minh chứng cho một nguyên tắc của Ge. Hẳn là Ge cũng không phản ứng lại hoàn toàn trước những yêu cầu của khách hàng về chức năng linh hoạt và những quy định trong xây dựng của Thụy Sỹ về việc bảo toàn năng lượng tự nhiên, nhưng vẫn có những vấn đề hoài nghi rằng nó cũng không được quan tâm đến nơi đến chốn, như tổ hợp Der Neue Zollhorf đã cho thấy.
4.50 Vitra International Headquarters, Birsfelden, Switzerland. Frank Gehry, 1988–94. Photo: Richard Bryant.

Lưu ý rằng, sự thành công của những nỗ lực của Ge trong việc nắm bắt các vấn đền trên ở Vitra HQ là sự phụ thuộc ở mức độ cao vào việc sử dụng dạng hình học quen thuộc và một ngôn ngữ đối xứng. Trong khía cạnh này, Ge lặp lại việc sử dụng hai dạng hình học hoặc hai thứ ngôn ngữ – một sự chia cắt tương tự xảy ra giữa một bên là thiết kế của tòa nhà bảo tàng Vitra và một bên là nhà máy hiện trạng – trong cùng một dự án, trông không thể tin được. Một sự rút lui khỏi kiến trúc ưa thích của Ge cũng như cái cách để diễn tả một công năng khác, phương pháp quy hoạch kép đưa ra một phương thức thuận tiện trong việc giải quyết những vấn đề về công năng và năng lượng theo một biện pháp thông thường hơn.
4.51 Vitra International Headquarters. Elevation (a) and plan (b) Source: El Croquis, 74–75.

Những nhận định không chính xác về những ưu tiên của Ge trong thiết kế thường bị mặc định trong luận bàn của giới kiến trúc sư ở một nơi khác về những công trình đã công bố của ông. Ví dụ, trong khi với tiếng tăm của mình, tạp chí El Croquis.28 của Tây ban nha lôi cuốn sự chú ý của độc giả tới những đặc tính về tiết kiệm năng lượng của công trình Vitra HQ, nhưng những đặc tính tương tự không hề được nhắc lại trong cuốn sách của chính Ge - Gehry Talk.29 Trong khi việc sử dụng Catia và tác dụng của những công nghệ khác được thảo luận rất chi tiết, tiết kiệm năng lượng chẳng được nhắc đến ở đâu trong cuốn sách đó.30


High-performance design
Thiết kế công nghệ cao

Trái lại, sự tận tụy của Foster đối với hiệu quả năng lượng và các vấn đề hàng ngày và cách tổ chức công năng minh chứng trong một loạt các dự án nhắm vào việc cải thiện không gian làm việc là cốt lõi trong các công trình hiện nay trong xưởng thiết kế của ông, như các công trình thời kỳ đầu của ông.31 tất cả được tranh luận và lưu trữ một cách tỉ mỉ trong những tài liệu được phát hành của xưởng cũng như trên các phương tiện truyền thông. Thêm vào một số thiết kế được tán tụng về nhà máy và thể loại tương tự, chuyên môn của Foster bây giờ trên thực tế bao trùm tất cả thể loại về cơ sở hạ tầng, bao gồm cả nhà ga xe lửa và tàu điện ngầm, cầu và các tòa tháp viễn thông. Tất cả điều này nằm trong tư duy chủ đạo của một nhà Hiện đại chủ nghĩa, nhắm vào việc nghiên cứu những tác động đến môi trường thiết kế, từ quy mô của quy hoạch vùng đến đô thị, cho đến các đơn vị ở nhỏ nhất. Thực vậy lĩnh vực thực hành của Foster tất cả từ một masterplanning tới một nhà thiết kế về thiết bị cửa (ảnh 4.52), và phương pháp phân tích tỉ mỉ của ông tới tất cả vấn đề bắt gặp có liên quan tới mọi sự thay đổi khác nhau cho tới đoạn kết. Ngay cả công trình Hongkong Bank, một thiết nổi tiếng và đắt đỏ của Foster được hiểu như một ví dụ tốt nhất trong những cuộc thử nghiệm về thiết kế văn phòng hiện đại, mọi người đã quen thuộc với hệ thống lưu thông kép của những thang cuốn và thang máy được sử dụng lận đầu tiên ở Willis Faber và Dumas, được tái sử dụng ở ngân hàng Hongkong, và sự thử nghiệm về những ‘skygarden’ đối với ngân hàng, hoàn chỉnh ở tòa nhà Commerzbank (ảnh 4.53 và 4.54) ở Fankfurt, và sau đó một lần nữa ở tòa nhà ARAG, và sẽ còn tiếp tục.
4.52 Fusital Door Furniture. Cresta Range. Norman Foster, 1994–5. Photo: Peter Strobel.
Sự tận tụy của Foster trong thiết kế công nghệ cao và tiết kiệm năng lượng, và tiến bộ công nghệ ông đưa racũng phải được nhìn nhận trong một bối cảnh rộng lớn, như một ảnh hưởng sống còn trong việc phát triển những văn hóa bản địa, ôm lấy cấu trúc của tòa nhà.32 Một kiểu mẫu thiết kế hiệu quả năng lượng và thân thiện với người sử dụng, Commerzbank, ví dụ, có một vài vấn đề so sánh: cao ốc đầu tiên sử dụng các cửa sổ mở và thông gió tự nhiên – 80% năm – một hiệu suất sử dụng vượt qua cả những tiêu chuẩn cao của người Đức. Cũng như đem lại những không gian thú vị bên ngoài những phòng họp, bố trí vườn trên nhiều tầng được thông gió tự nhiên, đóng vai trò như lá phổi của tòa nhà, đem không khí trong lành vào văn phòng từ trên cao.33 (ảnh 4.55)


4.53 Commerzbank Headquarters, Frankfurt, Germany. Internal view of four-storey wintergardens. Norman Foster, 1991–7. Photo: Nigel Young/ Foster and Partners.
4.54 Commerzbank Headquarters.View up through central atrium linking rear of wintergardens.
Photo: Author.

4.55 Commerzbank Headquarters. Section through wintergardens. Source: Foster and Partners.
Hệ thống điều hành không khí ở Commerzbank là một trong một loạt các đổi mới. Bắt đầu từ hệ thống điều hòa nằm ở dưới sàn của ngân hàng Hongkong, nơi khí lạnh bắt đầu tỏa ra từ dưới thấp nơi con người thực sự làm việc, Foster và những kỹ sư của ông đã khai mở tổng quát cho một lĩnh vực về hệ thống môi trường năng lượng thấp-low-energy environmental systems .Rất nhiều thứ trong đó được phát triển đầu tiên ở Đức, nơi có những quy định nghiêm khắc nhất thế giới về tiết kiệm năng lượng ở mức độ cao. Chúng bao gồm: kết cấu động, cấu trúc hai lớp ‘climate wall’ cho trung tâm thương mại Promotion (ảnh 4.56), một phần nghiên cứu công nghệ cao và chế tạo phức tạp được thực hiện ở Duisberg (một hệ thống động cũng được sử dụng cho tòa nhà ARAG ở Dusseldorf); sử dụng nhiệt lượng thải ra từ máy phát điện – power generator để chạy thiết bị làm mát, cung cấp nước lạnh cho hệ thống làm mát, cho cả trung tâm thương mại, thoát khỏi sự ông nhiễm máy phát điện sử dụng dầu thực vật chiết xuất từ hoa hướng dương hoặc hạt cải dầu dành cho nhà quốc hội Đức, Reichstag ở Berlin; sử dụng nước ngầm (ở tầng hầm) để lưu trữ và tái chế nước nóng và nước lạnh; cho nhà quốc hội Reichstag; điện năng mặt trời vận hành bởi sự kết hợp hệ thống ắc quy và pin quang điện ở trên mái, và cuối cùng những không kém phần quan trọng, thế hệ mới của những tua-bin gió khổng lồ dành cho Enercon (ảnh 4.57), được thiết kế trong sự cộng tác với nhà sản xuất.34
4.56 Business Promotion Centre, Duisberg, Germany. Section through office showing climate wall, chilled ceilings and natural airflows.
Norman Foster, 1990–3. Source: Foster and Partners.


Dynamic modelling techniques
Kể từ khi thiết kế Commerzbank, Foster chính thức sử dụng công nghệ mô phỏng động lực học thông qua máy tính, như hệ thống CFD – computational Fluid dynamics, để kiểm tra tác động trong những điều kiện môi trường khác nhau đến vấn đề hiệu quả năng lượng. Những mô hình công nghệ như vậy đóng một vai trò quan trọng trong hình dạng của tòa nhà văn phòng của Swiss Re (ảnh 4.58), London, và trụ sở mới của chính quyền thành phố London - Greater London Authority (GLA). Những ví dụ cho thấy năng lượng và môi trường ảnh hưởng tới kiến trúc của Foster, cả hai thiết kế rút được từ những cấu trúc hình học đơn giản cho tới phức tạp đòi hỏi những phương pháp hoàn toàn mới về thực hành kiến trúc. Khởi đầu từ một khối trụ tròn xoay mạch lạc, hình dáng hạt đậu của Swiss Re trên thực tế nảy sinh bởi rất nhiều mô hình khác nhau qua máy tính và sự cố gắng của các kiến trúc sư và kỹ sư trong việc liên kết các vấn đề đôi khi trái chiều lại với nhau để cho ra một sản phẩm tối ưu. Thiết kế giảm tối đa tác dụng của lực gió với cấu trúc hình xoắn ốc (ảnh 4.59), thêm vào việc giảm trọng lượng của tòa nhà, cấu trúc khí động của nó cũng làm giảm đi bất kỳ dòng khí nào đi xuống, làm biết mất trạng thái đáng sợ của những luồng gió dưới chân công trình thường là tai họa cho những khách bộ hành. Sân trời hình xoắn ốc – một sự phát triển từ những vườn treo của công trình Commmerzbank – đã đem lại cho Swiss Re những không gian độc nhất vô nhị và đặc điểm kiến trúc khác biệt (ảnh 4.60), cũng đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống điều hành vi khí hậu của công trình: áp lực khác biệt được tạo ra xung quanh cấu trúc thông gió tự nhiên thông qua các sân trời bằng cách buộc không khí từ hướng có gió trượt theo hướng gió thổi.35 Trong quá trình tương tự, dưới sự ảnh hưởng của đường chuyển động của mặt trời và các tác động môi trường khác, thiết kế của GLA mô phỏng hình khối tròn cơ bản – một cấu trúc hình học hiệu quả nhất cho việc bao che (ảnh 4.61). Nghiêng từ hướng vị trí xây dựng sang phía nam Ngân hàng Thames River, mặt phía bắc của công trình nghiêng một góc chính xác để cho không có một thời điểm nào trong ngày mặt trời có thể chiếu thẳng vào bức tường kính thép của công trình (ảnh 4.62). Vì lẽ đó, tường phía nam giật cấp hướng lên và đua ra ngoài, cho nên các tầng phía trên chắn nắng cho tầng phía dưới. Mành che bao phủ bên trong mặt bắc, tây và đông kết thúc giai đoạn cuối cùng, để lại mặt phía Bắc sáng sủa dành cho các thành viên hội đồng và các nhà quan sát thưởng thức tầm nhìn qua dòng sông từ bên trong phòng hội đồng, bối trí ngay sau bức tường kính. Một cầu thang hình elip đẹp mắt – bản thân nó là một dạng hình học phức tạp – nằm ở đại sảnh cuộn tròn hướng lên trên kết nối tất cả các phòng, chia sẻ tầm nhìn với tất cả các nhân viên văn phòng.


4.57 Enercon E66 Wind Turbines, Holtriem wind farm,Germany. Norman Foster, 1993. Photo: Nigel Young/Foster and Partners.
4.58 Swiss Re Headquarters, London, UK. Norman Foster, 1997–2004. Photo: Nigel Young/Foster and Partners.
4.59 Swiss Re Headquarters. Computer simulation of wind forces on tower. Source: BDSP Partnership.

4.60 Swiss Re Headquarters. Model showing skycourts. Source: Foster and Partners.
4.61 Greater London Authority Headquarters, London, UK. 3D models showing changes in geometry from pure sphere to lens shape.
Norman Foster, 1998–2002. Source: Foster and Partners.

4.62 Greater London Authority Headquarters. View towards Tower Bridge. Source: Nigel Young/Foster and Partners.
Kể từ năm 1998, Foster phát triển một phần mềm của riêng ông dành cho việc thực hành kiến trúc – custommized software tools mà phần nào cũng đáp ứng được sự phức tạp rắc rối của hai sự án Swiss Re và GLA. Tương đồng với chương trình Catia ở vài điểm, hệ thống của Fos được hình thành khá khác biệt. Như giám đốc Specialist modelling group (SMG) giải thích, trong khi Ge mua lại một chương trình sẵn có thì hệ thống SMG lại được đặc biệt tạo ra để đáp ứng lại nhu cầu về phương pháp thực hành kết hợp.36 với hai hình thức của phương pháp thực hành, sự phân tách giữa hai hệ thống gia tăng thêm những khác biệt về cơ bản trong phương pháp thiết kế. Như bản thân các công tác viên của Ge miêu tả, hệ thống Catia được thiết kế chủ yếu dành cho chế tạo sản xuất, cho nên nó chỉ tham gia vào quá trình khi thiết kế hoặc hình dáng công trình đã được xác định.37
4.63 Greater London Authority Headquarters. Interior view of spiral stairway over council chamber. Source: Nigel Young/Foster and Partners.
Qua quá trình xem xét việc mua hệ thống Catia, Whitehead kết luận rằng nó không thể tương thích một cách dễ dàng với cấu trúc đa dạng nhiều nghành nghề của Foster, nơi thiết kế được sản sinh ra bởi rất nhiều con người với rất nhiều nghiên cứu khác nhau.38 Thực tế hiện nay sử dụng hơn 400 máy vi tính ở các khâu khác nhau, tất cả phục vụ cho một hoặc nhiều đồ án ở bất cứ thời gian nào yêu cầu. Hơn nữa, trong khi chương trình Catia được thiết kế cho những cấu trúc cong nhiều chiều được thực hiện một cách chính xác, những đối tượng tương tự, xảy ra khi hai hoặc nhiều hơn các chi tiết có cùng một chiều cong – như hệ thống bao che được thiết kế cho hợp với cấu trúc xây dựng phía sau, hoặc ngược lại. Trong những nền công nghệ như ô tô và vũ trụ mà Catia phục vụ, thì những tính toán phức tạp như vậy là rất bình thường trong việc phát triển những mô hình mới, giá cả chỉ đóng vai trò một phần tương đối nhỏ trong toàn thể chương trình. Trong những dự án của Ge, các chi tiết xây dựng như các tấm bao che với hình dạng tự do rất phức tạp được làm đơn giản hóa đi. Ví dụ, hầu hết các bề mặt tự do của Bilbao Guggenheim và phòng hòa nhạc Disney (ảnh 4.64) cũng như văn phòng Dusseldorf, thực tế tạo thành từ các đường cong, khi đường cong thay đổi nó sẽ thay đổi một cách đều đặn, những cạnh cong sắc cũng bắt gặp rất nhiều trong những thiết kế khác của Ge. Không chỉ làm đơn giản hóa về mặt hình học mà còn có thể tạo ra một kết cấu và hệ khung xương từ các thanh thẳng (ảnh 4.65). Ge cũng tránh được các vấn đề tiềm tàng bằng cách che dấu đi mọi thứ dưới lớp áo hào nhoánh của công trình. Những đường cong mới mẻ độc đáo, liền mạch được sáng tạo bởi Ge thường được bao che bằng thép không dỉ (thi thoảng thì bằng bê tông) được thiết kế đặc biệt sau khi cấu trúc bên ngoài và vật liệu che phủ đã được quyết định, không nhìn thấy tiếp điểm giữa các bề mặt. Toàn bộ tiếp điểm giữa các cấu kiện trên toàn bộ bề mặt bao che đã được tính toán đến độ chính xác cao. Chúng ta chỉ có thể suy xét rằng những yếu tố tương tự nào đã tác động lên thiết kế tòa nhà văn phòng Dusseldorf, và sự chọn lựa của Ge hầu hết là những bề mặt rắn chắc và bao che cấu trúc xây dựng trở nên sáng sủa và rực rỡ hơn. Tuy nhiên, trong khi sự tương phản đó phù hợp với hình thức của các bề mặt trơn và những dạng cấu trúc mang tính điêu khắc – những dạng công trình như bảo tàng và khán thính phòng như không tương thích lắm với văn phòng và các kiểu tương tự – chúng lại phù hợp với những thế mạnh trong studio của Foster đó là kiến trúc của kính và thép, phô trương kết cấu cùng sự kết hợp chính xác với lớp vỏ bọc bên ngoài cùng với những bộ phận cấu thành liên hệ một cách rõ ràng mạch lạc với nhau.


4.64 Walt Disney Concert Hall. The finished building. Photo: Hufton _ Crow/View.
Khởi đầu với những đường cong rộng lớn của mái vòm nhiều nhịp trong tòa nhà sân bay quốc tế ở Chek Lap Kok (ảnh 4.66) và những đường cong cuồn cuộn và phi đối xứng của hệ mái kính và thép bao che trong phương án cải tạo Great Court của bảo tàng Anh (ảnh 4.67;4.68), xưởng thiết kế của Fos cũng đã có nhiều kinh nghiệm với cấu trúc tìm kiếm những giá trị mênh mang hơn mặc cho ngôn ngữ của cấu trúc này đòi hỏi một nguyên tắc ngữ vựng cao. Cả hai công trình GLA và Swiss Re đều có những đặc tính chính xác và dễ nhận biết trong mối quan hệ giữa lớp vỏ và cấu trúc chịu lực (ảnh 4.69), và cũng phô bày một kết cấu và trật tự hình học mới rất phức tạp. Với một kiến trúc như vậy thì rất khó tránh khỏi những vấn đề về ghép nối giữa các thành phần tương tự nhau, những vấn đề to lớn tiềm tàng trong thiết kế và toàn bộ quá trình chế tạo và lắp đặt.
4.65 Walt Disney Concert Hall. View under construction showing primary and secondary steel
structures beneath stainless steel skin. Photo: Lara Swimmer/Esto.


4.66 Hong Kong International Airport, Chek Lap Kok, Hong Kong. Computer image of roof
structure. Norman Foster, 1992–8. Source: Foster and Partners.
4.67 British Museum Great Court, London, UK. Norman Foster, 1994–2000. Interior view of roof.
Photo: Ben Johnson.

4.68 British Museum Great Court. Computer image of roof structure. Source: Foster and Partners.
Design template
Thiết kế mẫu

Từ giải pháp của White và SMG đến phương pháp cộng tác của xưởng về vấn đề giải quyết những đường cong phức hợp để tạo ra những ‘thiết kế mẫu’ thực hiện theo đơn đặt hàng riêng của họ, lợi dụng được những đòi hỏi của máy tính và cùng một thời điểm có thể vận hành toàn bộ các khâu thiết kế của xưởng cũng như tất cả đội ngũ tư vấn ở các khâu tương ứng.40. Vậy nên, trong khi đường nét của những bức tường của Swiss Re rõ ràng đi theo một đường cong tăng dần thực sự mà không hề có một tâm quay và bán kính đơn lẻ nào, thậm chí nó được tạo thành từ những hình cung khác nhau lặp lại và liên kết với nhau (ảnh 4.70). mỗi một cung đoạn tròn có một tâm và bán kính riêng, bất cứ một phiên bản theo một hướng khác do đó cũng dẽ dàng được tính toán, trong sự quan hệ với lớp bao phủ và những chi tiết kết cấu, sản xuất và lắp ráp với một dung sai cực nhỏ, tất cả làm nên một kết quả rõ ràng qua mắt nhìn thực tế .
4.69 Swiss Re Headquarters. Detail of steel structure and cladding.Photo: Nigel Young/Foster and Partners.
Đặc biệt, SMG mẫu cũng kết hợp những đặc tính tham số – phần mềm tiến bộ với những tính năng không có trong những phiên bản đầu tiên của hệ thống Catia mà Ge đã sử dụng – cho phép thiết kế thay đổi khảo sát và cập nhật lại nhanh chóng. Nếu nhà tư vấn hặc bên thiết kế muốn thay đổi một thông số,.. kích thước của sàn hoặc tấm kính, những ảnh hưởng tới các thống số khác và các yếu tố có liên quan lập tức được tính toán lại và có thể được chia sẻ và thảo luận với tất cả các bên liên quan.
4.70 Swiss Re Headquarters. Sectional diagram showing geometrical composition of arcs forming curved wall. Source: Foster and Partners.
Quan trọng nhất, SMG điển hình chuyển các dữ liệu hình học vào một cấu trúc mà có thể chuyển dịch dễ dàng giữa các hệ thống số hóa độc lập. Vị trí của mỗi nhân tố được liên hệ chính xác với những dữ liệu liên quan và trình bày dưới một bảng tính Exel tiêu chuẩn. Với một chút hướng dẫn, những nhà tư vấn, những nhà thầu và nhà sản xuất có thể tạo ra một mô hình số hóa riêng của họ nhằm mục đích phục vụ cho những vấn đề trong quá trình xây dựng, tương thích nhanh chóng với những thông tin đưa ra bởi nhà thiết kế, một phương tiện đơn giản nhưng hiểu quả trong quản lý hay bất cứ một khâu nào khác. Hệ thống SMG phân bổ trách nhiệm một cách hiệu quả cho tiến trình thiết kế và sản xuất đồng đều nhau cho các thành viên của cả nhóm xây dựng.


DIFFERENT WORLDS
Green credentials

Tuy nhiên, quan trọng nhất là phương thức thực hành kiến trúc mới, chúng ta không nghĩ những công trình giống như Swiss Re và GLA như một sản phẩm hoàn toàn mang tính công nghệ hoặc điều kỳ diệu của kỹ thuật số. Giống Bảo tàng Guggenheim ở Bilbao, cả hai thiết kế đã được trù định trước, không chỉ ngay lập tức trở thành những điểm nhấn đô thị, mà còn là biểu tượng trên bình diện toàn cầu. Tòa nhà GLA, đặc biệt với hình thức thống nhất của nó và vị trí bên sông Thames gần cầu Tower Bridge, sự cuốn hút một cách cố ý của nó như muốn khôi phục lại vị thế đã mất từ lâu. Nghiêng theo đường đi của mặt trời, GLA là một niềm kiêu hãnh về những đặc tính tiết kiệm năng lượng, bao gồm cả hệ thống thông gió tự nhiên động và việc sử dụng hệ thống nước ngầm dưới chân công trình để dàng cho hệ thống làm mát, giống với hệ thống cùng cho công trình Reichstag Parliament. Công trình được mong đợi giảm ít hơn một phần tư năng lượng sử dụng cho một tòa nhà văn phòng thông thường (ảnh 4.71). Một thiết kế hiệu quả năng lượng cũng nêu lên một câu hỏi: có thể xây dựng một công trình hành chính mang tính biểu tượng theo thể loại này hoặc một thiết kế hình thành theo phương thức tương tự ở Mỹ? 4.71 Greater London Authority Headquarters. Diagram of energy systems. Source: Foster and Partners.
Có lẽ không công bằng khi lựa chọn Ge hoặc trông chờ kiến trúc sư tài năng độc nhất vô nhị này bị cuốn hút vào sự phát triển của những phát minh công nghệ, hoặc thậm chí quan tâm đến vấn đề hiệu quả năng lượng như Foster, qua những công trình mang ý nghĩa lớn lao về mặt nghệ thuật cũng như việc sử những thành tựu về mặt công nghệ như quá trình Catia. Khá đầy đủ với một kiến trúc sư hướng tới tương lai trong một cuộc đời với sự phản kháng lại thực tiễn hành nghề tại Mỹ. Cũng như cuộc thử nghiệm với những hệ thống tham số thực tiễn được mở rộng sử dụng những sản phẩm phần mềm Dassau System từ một phạm vi bên ngoài Catia đi vào lĩnh vực của thiết kế và tiến trình xây dựng, bao gồm cả sự quản lý về thời gian. Dự định cũng bước thêm một bước làm cho những kinh nghiệm của họ có ích cho những kiến trúc sư và những nhà tư vấn khác trong công nghệ xây dựng.41 Việc sử dụng những công nghệ động lực học giống như CFD để mô hình hóa việc xây dựng công trình là quan trọng, cũng không quan trọng hơn dạng công nghệ mô hình hóa tĩnh được sử dụng bởi Foster và Ge trong những chương trình CAD/CAM khác nhau của họ.42 Không một nhà thiết kế máy bay, ô tô hay nhà sản xuất nào thưởng ngoạn một công trình theo một hình mới mà không tái hiện nó trong những điều kiện tương tự, đưa ra những tiềm năng vĩ đại trong vấn đề kinh tế xã hội trong xây dựng, những tác động của công nghệ tiềm tàng đối với môi trường và năng lượng là không giới hạn trên thực tế.


Atlantic divide
Hai bờ đại tây dương
Để thực hiện điều này là rất quan trọng, cho nên, khi chúng ta nói về những tiến bộ công nghệ, chúng bao gồm tất cả những gì liên quan tới công nghệ mô hình hóa bằng máy tính. Cùng nhau, chúng giúp các nhà thiết kế xây dựng hoàn chỉnh một ‘nguyên mẫu ảo’ của thiết kê, tái tạo tất cả diện mạo của cả vẻ bề ngoài lẫn việc thực hành. Như tiến trình Catia và hệ thống của Whithead, nhằm mục đích đơn giản hóa quá trình sản xuất những cấu trúc phức tạp và do đó nhắm vào việc mô hình hóa những đặc tính tĩnh như: cấu trúc, không gian, bền mặt và kết cấu. Ví dụ khác như CFD và những môi trường khác và những công nghệ mô phỏng, cho chúng ta thấy rằng công trình thiết kế sẽ được hoạt động và được sử dụng ra sao – cơ bản phụ thuộc vào - giống như bất cứ công nghệ khác - phụ thuộc vào điều mà nhà thiết kế muốn làm. Có rất nhiều sự tôn trọng đối với kiến trúc của Ge - một sản phẩm của văn hóa Mỹ đương đại. Không có nghĩa rằng Ge và các cộng sự của ông không quan tâm đến thiết kế năng lượng. Với rất nhiều công trình đã hoàn tất ở Đức và Thụy sỹ, họ cũng đã tích lũy được những kinh nghiệm riêng trong sự đồng cảm với những quy tắc bắt buộc của những đất nước đó. Vitra HQ là một minh chứng rằng, nếu quan tâm đến vấn đề đó Ge cũng có thể cho ra những sản phẩm mang phẩm chất năng lượng hiệu quả với những tòa nhà văn phòng thuyết phục không kém những công trình mang tính chất điêu khắc của ông.
Tuy nhiên, khi so sánh Foster hoặc bất kỳ kiến trúc sư Anh Quốc nào khác thì trên thực tế là vấn đề hiệu quả năng lượng thường đóng vai trò tương đối phụ trong kiến trúc của Ge. Nó chỉ đơn giản là vấn đề về quyền ưu tiên. Phương pháp thiết kế của Ge thường bắt nguồn từ những giá trị văn hóa dân tộc mà rất tiếc, ở đó có rất ít mong muốn thiết lập những giá trị về tiết kiệm năng lượng, và không ngạc nhiên khi kiến trúc của ông phản ánh điều đó, cả những công trình thương mại thời kỳ đầu ở Los Angeles. Và những sản phẩm công nghệ mà Ge đi tiên phong làm cho ông hiểu rõ hơn những ảo ảnh nghệ thuật về cấu trúc và không gian của ông, và nỗ lực đến những giới hạn mới theo chiều hướng đã định.
4.73 New German Parliament, Reichstag. Computer simulation of effect of natural airflow through reflector and vent in cupola. Source: Foster and Partners.


Mặt khác, Foster làm việc với nền văn hóa Châu Âu quan hệ mật thiết với những vấn đề về bảo tồn năng lượng, đặc biệt ở Đức, nơi mà những giá trị và những sản phẩm xanh đã ăn sâu và trong đời sống chính trị của thành phố ngược lại với đời sống chính trị ở Mỹ. Mang lại cho ông một vị thế trong lĩnh vực thiết kế mang tính biểu hiện cao, nên không ngạc nhiên rằng, khi đến làm việc tại Đức, Foster đã khai thác sự cách tân cho khu vực này những hiệu quả đặc biệt .43 Đó là điều khác biệt quan trọng, trong vấn đề thích ứng với môi trường công việc tại Đức. Nơi mà Ge và những cộng sự của ông chỉ đơn giản là thích ứng với hoàn cảnh – họ không có sự chon lựa cho những vấn đề mà Foster đã dùng nó làm bệ phóng cho những cải tiến hơn nữa của ông trong vấn đề thiết kế hiệu quả năng lượng, với một thành quả lớn lao, sự khác biệt đó mênh mông như Đại tây dương vậy.


Creative crossovers
Khi còn là sinh viên cao học tại đại học Yale, Foster đã là một người ngưỡng mộ Buckmister Fuller, người đầu tiên đề xuất ý tưởng về đưa công nghệ cao vào kiến trúc, trong suốt thời gian trưởng thành của ông. Fuller cộng tác với ông trong vài dự án đầu tiên, ví dụ như ‘climatroffice’ (ảnh 4.74) và Hội chợ năng lượng quốc tế năng 1978 – đó là hai viễn cảnh đã được thiết kế thử nghiệm.


4.74 Climatroffice. Norman Foster with Buckminster Fuller, 1971. Source: Foster and Partners.

4.75 Vitra Airline Seating System. Norman Foster, 1997–9. Photo: Vitra International.
Tuy nhiên, trong khi không thiếu những người hâm mộ của Buck ở Châu Âu, thì chắc chắn không tìm thấy ai ở chính quê hương của ông. Những thiết kế đồ đạc của Foster, như cho Vitra (ảnh 4.75) cũng chịu tác động mạnh mẽ của Charles và Ray Eames (ảnh 4.76), cũng dường như đã bị lãng quên tại Mỹ. Như chúng ta đã thấy Foster đã xới lên một điều gì đó vài năm gần đây, ngôn ngữ của hình học đã khá thay đổi theo chiều hướng của Ge với nhiều dự án hơn như văn phòng bên sông Albilon ở London (ảnh 4.77) và văn phòng Chealse Futura ở St Moritiz (ảnh 4.78). Rất có ý nghĩa, tuy nhiên Foster và các cộng sự mở rộng ngôn ngữ hình học thông thường mà không hạn hẹp trong công việc hoặc phận sự của họ, cho dù họ tham gia vào những thể loại công trình phổ biến, những vấn đề công năng, năng lượng hoặc kết cấu và sự biểu hiện hay không. Trái lại những trải nghiệm trong xưởng của Foster trong vấn đề phi hình học Euclid – non-Euclid là một sự khẳng định của phương pháp thiết kế kết hợp mạnh hơn giai đoạn đầu của họ. Theo một cách khác, mặc dù ngữ vựng hình học của Ge phức tạp hơn trong xưởng của Foster sự xắp đặt lại sau này trong xưởng với một loạt các yếu tố môi trường khác, chính là một sự quan tâm xứng đáng trong con mắt của Foster. Đó là một điều phức tạp khác của Ge – không thấy ngay lập tức - nhưng là một phần quan trọng.
4.76 Lounge Chair.Charles and Ray Eames, 1958. Source: Museum of Modern Art.
4.77 Albion Wharf Development, London, UK. Computer image. Norman Foster, 1999–2003. Source: Foster and Partners.
Trong khi phương pháp thiết kế và ngữ vựng thông thường của Foster đang được đa dạng hóa theo thực tiễn công việc và sự trưởng thành của ông, thì sự thành công của Ge đã xảy đến, cho nên phương pháp và thẩm mỹ cá nhân của Foster trở nên dễ đoán trước – và có cảm giác, cùng với những đơn đặt hàng của ông, cũng trở nên chật hẹp. Rõ ràng Ge hết sức thích thú với sự tự do và sự ủng hộ của máy tính và Catia mang lại để nghiên cứu về đường cong trong ba chiều không gian và một bút pháp mà từ trước đến nay không kiến trúc sư nào làm được. Những bảo tàng và những công trình mang tính điêu khắc khác, đã tạo thành một phần chính trong thực tế công việc của ông và cũng trải ra cho ông một cơ hội thúc đẩy sức sáng tạo và khả năng điêu khắc của mình tới cùng tận.

Tuy nhiên, những câu hỏi còn sót lại về phương pháp của Ge, đặc biệt liên quan đến phương pháp quy hoạch kép-dual planning methods của ông. Chúng có phải là những phương thức đúng đắn trong việc diễn tả các công năng khác nhau của một công trình, như Aalto đã làm và Ge cũng có chiều hướng như vậy, hoặc có phải là một sự thừa nhận rằng những thể loại công trình đó hoặc những hình thức kiến trúc mà Ge không quan tâm tới, hoặc không có khả năng kết hợp với ngôn ngữ điêu khắc ưa thích của ông, hoặc có thể cả hai?

Những luồng văn hóa
Sự mơ hồ trong những mối quan hệ giữa kiến trúc và thế giới của nghệ thuật thương mại và quảng cáo mà Ge khai thác một cách khôn ngoan và đầy kỹ năng trong những dự án thời kỳ đầu của ông, sự mở rộng một cách kỳ diệu đặc biệt kể từ bảo tàng Guggenhiem, mang nhãn hiệu văn hóa Mỹ và những hình ảnh tiếp tục được thể hiện trong những công trình của ông, cho dù có chủ ý hay không có chủ ý. Những cấu trúc thực tế có thể thay đổi qua năm tháng – ống nhòm hay con cá – nhưng nền tảng văn hóa dẫn dắt Ge và rất nhiều nhà thiết kế khác thì không. Dĩ nhiên sự tiếp nhận nhiệt tình của giới truyền thông dường như cổ vũ cho ông tiếp tục con đường của mình, đưa ra những hình khối tròn trịa đẫy đà tour de force (ảnh 4.97) mà cả khách hàng và dư luận đều trông đợi.

4.79 Museum of Contemporary Music, Seattle, Washington, USA. Frank Gehry, 1995–2000. Photo: John Edward Linden.


Do đó, thậm chí ông đã xây dựng ở rất nhiều quốc gia và những bối cảnh văn hóa khác nhau, ở Ge vẫn tồn tại mạnh mẽ hương vị của quê nhà và văn hóa Los Angeles, Mỹ, như Foster vẫn ảnh hưởng bởi những nghề nghệp và những cá nhân khác nhau ở London và Châu Âu. Không nghi ngờ, Ge sẽ đi theo những công nghệ tương tự về hiệu quả năng lượng của những nhà tiên phong như Foster và hy vọng rút cục ông sẽ là thành viên trong những nhà thiết kế của Mỹ, ông sẽ đưa họ vào giới hạn mỹ học của ông. Và ai trong bản phân tích cuối cùng sẽ tranh luận về điều đó? Một điều tuyệt vời về những sản phẩm công nghệ số hóa là sự chính xác và họ có thể sẵn sàng thích ứng tới một giới hạn khác, hơn là cứ đi quẩn quanh, như cách người ta sử dụng công nghệ cho những sản phẩm khổng lồ cuối thế kỷ trước (Archigram - Walking city). Chúng ta cũng cần những kiến trúc sư như Foster và Ge với những sự khác biệt quan trọng của họ. Rất nhiều năm về trước, trong việc so sánh với những tác phẩm lớn của hai nhà thiết kế trái ngược nhau, Mies và Sharoun, tôi đã viết: ‘...những tác phẩm của mỗi nền văn hóa, mỗi tòa nhà chúng phản ánh một giới hạn của một cái khác, không cùng hệ thống, nhưng trong một phép so sánh giữa những hệ thống niềm tin khác nhau. Khi chúng ta đem so sánh một công trình với một công trình khác, chúng ta so sánh những ngôn ngữ khác nhau, mỗi thứ tồn tại một nguyên tắc logic nội tại khác nhau, mỗi thứ đề xuất một cách hiểu trên thực tế khác nhau. Chúng ta không chỉ so sánh tòa nhà nọ với tòa nhà kia mà là so sánh ý niệm với ý niệm và giá trị với giá trị.44(Abel, 1979, p. 45). Một thời kỳ khác, một thế hệ khác, nhưng tôi nghĩ rằng vẫn còn giá trị, sức nóng của Ge, sự mát mẻ của Foster. Trong hai thái cực, tư thế một trật tự mênh mang của các phương pháp khác chờ đợi một sự quyết tâm và sẵn sàng điều hành những công nghệ tương tự. Nhưng chúng ta cần những người có quan điểm cực đoan để xác định những giới hạn có thể xảy ra. Không có Dionyos, Apollo không thể hiễu về những điều hoang dại. Không có Apollo, Dionyos không thể biết nếu ông ta quên để lại một thứ gì đó sau cuộc vui.
(hết chương 4)


“Những trang viết của Abel đã bộc bạch hết cho chúng ta thấy cội rễ căn nguyên cũng như những chuyển dịch trong tư tưởng của Foster và Gehry và những thăng trầm trong thực hành kiến trúc của họ. Sự biện chứng đến cao độ thông qua việc sử dụng hai hình ảnh ở hai thái cực ám chỉ một người là con của thần mặt trời - Apollo, một là con của Dionyos - vị thần của rượu và khoái lạc rồi đưa ra những luận cứ sắc sảo, những hình ảnh minh họa vô cùng phong phú, một tư duy lý luận chuyên nghiệp..... khiến cho những điều mà tôi từng được biết qua những trang văn tự bằng tiếng Việt về Foster và Gehry trở nên thật ngây ngô và hời hợt.
Từng dòng, từng dòng ta có thể cảm nhận được những bước chân phiêu lãng của Abel trên những nẻo đường, qua những công trình rồi cặm cụi xắp xếp, tích lũy những hình ảnh minh họa, những lời chú thích, qua từng trang bản thảo và qua biết bao năm tháng!. Bằng nhãn quang văn hóa trải rộng trên khắp các châu lục, dường như Abel đang muốn xây dựng lại ngôi đền lý luận tư tưởng mới cho những thế hệ sau nương tựa, chiếm hữu, và bứt phá.



Nào! các bạn sinh viên kiến trúc hãy mênh mang theo những bước chân của viễn khách Abel về miền đất của mặt trời và khoái lạc. ”
Người dịch: N. q. Hoàng 

Nhãn:

0 Nhận xét:

Đăng nhận xét

Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]

<< Trang chủ